Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Thống Ăn Chay. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền Thống Ăn Chay. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Ăn chay trong mùa Vu Lan (Đinh Liên - Trần Thị Thư)




Buffet chay - Vegetarian buffet
During Ullambana (Vu Lan) Festival, it's a tradition for many Vietnamese people to eat vegetarian.

Đổ xô ăn chay trong mùa Vu Lan
Đinh Liên - Trần Thị Thư

Trong tháng Vu Lan, không ít gia đình đổ xô ăn chay, như một cách báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.

Để đáp ứng nhu cầu của đông đảo thực khách, nhiều quán ăn chay đã mở cửa. Khác với những món ăn chay dân dã nơi cửa chùa, đa phần tiệc chay tại nhà hàng đều phong phú hơn cả về nguyên liệu, cách chế biến, các món ăn.


Hơn một tuần nay, chị Nguyễn Phương Lan (Láng Hạ, HN) dành những buổi trưa trong tuần ăn cơm chay hoặc tiệc buffet chay tại một số nhà hàng lớn. Chị vui vẻ nói: “Mình được cô bạn thân dẫn đi ăn cơm chay cách đây vài tháng. Ban đầu chỉ nghĩ là ăn chay có lợi cho sức khỏe, giúp trẻ lâu mà không bị tăng cân. Ăn thịt nhiều cũng chán, nhất là thời buổi bây giờ nhiều dịch bệnh, nên quyết định đi ăn cho thay đổi khẩu vị.”

Cũng nghiền các món chay, nhưng hôm nay, anh Minh Hoàng (Cầu Giấy, HN) phải đứng xếp hàng gần 30 phút, mới gọi được món súp tĩnh tâm. Mỗi tuần một lần, cả nhà đều đến quán quen thuộc ăn chay, nhưng từ gần một tuần nay, các quán chay đều trong tình trạng quá tải bởi lượng khách đến ngày một nhiều.

Gần trưa, quán chay trên đường Láng Hạ đã đông nghịt khách, nhiều người không thể kiên nhẫn xếp hàng chờ đến lượt liền ngao ngán lắc đầu bỏ đi. Cảnh chen lấn, xếp hàng chờ đợi, vốn thấy ở các bến tàu xe, nay lại diễn ra trước quán cơm.

Anh Nam, nhân viên bán hàng tại một quán cơm chay cho biết: “Trong tháng này, nhà hàng chúng tôi đã nấu lượng thức ăn gấp đôi so với trước mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Số lượng bàn cũng không đủ để khách đến ngồi, nhiều người thậm chí còn phải mua về nhà để ăn.”

Nhộn nhịp hơn hẳn phải kể đến không khí của quán cơm chay trên đường Yên Phụ. Gần 13 giờ, hàng trăm khách vẫn còn chen chúc trước cửa quán, thậm chí đứng tràn ra lòng đường để chờ đến lượt mua cơm mang về. Nhiều khách đến ăn tại chỗ thì vất vả tìm chỗ gửi xe, sau đó mòn mỏi đợi. 


“Dù đã chuẩn bị đến 50 món chay trong tháng Vu Lan, nhưng dường như lượng thức ăn vẫn còn quá khiêm tốn so với nhu cầu. Chúng tôi mới mở hàng buổi trưa, giờ đã bán hết, nhiều khách đến hỏi muộn cũng không còn thức ăn để mua,” anh Hoàng, chủ quán cơm chay cho biết.




Ăn chay ở chùa - Veg food at the temple
Ngay từ những ngày đầu tháng Bảy âm lịch, nhiều người đã lên chùa ăn chay. Người đến vãn cảnh chùa, đều được sư thầy mời ở lại dùng cơm. Chỉ là bữa cơm đạm bạc với rau dưa, đậu, lạc… nhưng thực khách đều cảm thấy hài lòng, thích thú, bởi không gian tĩnh mịch, không ồn ào, bụi bặm chốn cửa thiền.

Thượng tọa Thích Nguyên Hạnh trụ trì chùa Tảo Sách (386 Lạc Long Quân, Nhật Tân, Tây Hồ,  Hà Nội) cho biết: “Rất nhiều người dân xung quanh khu vực này có thói quen ăn chay trong các ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng. Đặc biệt, vào dịp lễ Vu Lan người dân đã bắt đầu ăn chay từ những ngày đầu tháng Bảy âm lịch. Người ta tự làm đồ ăn chay ở nhà, nhưng nhiều nhà vào chùa nhờ tôi làm cỗ để báo hiếu với cha mẹ, tổ tiên của mình.”

Các ngôi chùa ở Hà Nội như chùa Bồ Đề, chùa Phụng Thánh, Tảo Sách… đều tổ chức bữa cơm chay trong tháng Vu Lan.

Chị Thu Hằng (Lạc Long Quân, HN) cho biết: “Tôi bận bịu công việc nhưng cố gắng dành thời gian lên chùa ăn cơm chay hàng tháng. Chùa Phụng Thánh tôi hay lui tới vì cơm chay do chính sư thầy chuẩn bị. Cơm chay nhà Phật cũng mâm sáu người nhưng không khí nhẹ nhàng, thanh tịnh lắm, không ồn ào như khi người ta đi ăn cỗ thông thường. Sự thảnh thơi, thanh thản chính là cái người ta muốn tìm. Mâm cơm chay chỉ là một cái cớ để gần gũi trong không gian tĩnh tại, bình yên của chùa chiền.”

Trong tháng Vu Lan, các bà nội trợ cũng có thể tự làm các món chay tại nhà. Chỉ cần “click chuột” một danh sách thực đơn và cách chế biến các món chay đều có.

Chế biến món chay không mấy phức tạp nhưng đòi hỏi công phu và sự sáng tạo. Nguyên liệu chay là ngũ cốc, rau quả đơn giản và dễ tìm. Đặc biệt, thực phẩm chay bán khá rộng rãi tại những cửa hàng, siêu thị và đều được chế biến sẵn.

Để chuẩn bị cho mâm cỗ chay ngày lễ, chị Mai Hoa (Hà Đông, HN) đã dậy sớm đi chợ, chọn lựa rau quả cho bữa ăn chay của gia đình. Chị cho biết: “Đa phần các món chay đều từ các loại củ, quả… cho nên việc lựa chọn thực phẩm tươi, sạch, là điều rất cần thiết để bảo đảm hương vị của món ăn. Chẳng cần phải đến các lớp học nấu món chay làm gì, lên các diễn đàn, các mẹ đều chia sẻ kinh nghiệm nấu với nhau. Người còn người mất mẹ, nhưng năm nào cũng vậy, vào ngày này, ngoài việc đi chùa chúng tôi còn xem ăn chay như một hành động báo hiếu”.

Ăn chay, tự nấu các món chay đã trở thành một nét văn hóa, một trào lưu mới trong ẩm thực của nhiều gia đình. Trong tháng Vu Lan, cả gia đình bạn hãy lựa chọn những món chay bổ dưỡng, có lợi cho sức khỏe, đó cũng là một cách để tịnh tâm trong tháng Vu Lan.


http://gioitre.phapluatxahoi.com.vn/138201174849251p0c97/do-xo-an-chay-trong-mua-vu-lan.htm

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Bếp Việt trong vườn Huế (Thùy An)

Eighty percent of Huế residents are Buddhist, and mastering the art of vegetarian cuisine is a time-honored tradition in this land of the ancient capital of Việt Nam. Between April 20 and May 3, 2011, a vibrant festival is celebrated in Huế, titled "Vietnamese Kitchen in Huế Garden." Vegetarian fare is exalted, as are ornamental plants in beautiful and romantic settings.

Bếp Việt trong vườn Huế 
Thùy An

Trích đoạn:
VH- Diễn ra từ 30.4 đến 3.5.2011, Festival nghề truyền thống Huế lần thứ 4 với chủ đề “Bếp Việt trong vườn Huế” sẽ tôn vinh ẩm thực và cây cảnh.

Đây không những là thế mạnh, là nét văn hóa đặc sắc của xứ Huế mà còn của cả Việt Nam nói chung. Tại Festival năm nay, ngoài thưởng thức nghệ thuật ẩm thực Huế, người dân và du khách còn có thể thưởng thức cả nghệ thuật ẩm thực Bắc Bộ và Nam Bộ. Song song với đó là những hoạt động văn hóa nghệ thuật của cả ba miền cũng sẽ hội tụ…


Phong cách sống Huế

Theo thống kê từ các chuyên gia ẩm thực, trong số 1.700 món ăn được biết đến của Việt Nam, thì đã có đến 1.300 món ăn của xứ Huế. Và trong số ấy, hiện còn khoảng 700 món vẫn được lưu truyền. Ông Phan Trọng Vinh, Chủ tịch UBND thành phố Huế cho rằng, ẩm thực và cây cảnh là 2 nghề độc đáo của truyền thống văn hóa, phong cách sống Huế. Những người nấu ăn tài hoa và chăm cây kiểng Huế đã mang phong vị sống của Huế đi khắp nơi, làm cho mọi người cảm nhận sự lý thú từ những món ăn Huế phong phú, trong không gian đậm đà nét Huế. Tại Festival lần này, ẩm thực Huế sẽ được biết đến với ẩm thực chay, ẩm thực cung đình, ẩm thực dân gian…

Kết hợp với hệ thống chùa chiền đồ sộ hiện vẫn còn tồn tại ở Huế (khoảng 500 ngôi chùa, tịnh thất, niệm Phật đường…), trong đó có nhiều ngôi chùa cảnh đẹp nổi tiếng như Thiên Mụ, Huyền Không Sơn Thượng, Từ Hiếu…, một số hãng lữ hành sẽ tổ chức tour du lịch chùa Huế kết hợp với thưởng thức nghệ thuật ẩm thực chay. Huế có khoảng 80% dân số theo đạo Phật nên ăn chay đã phổ biến từ rất lâu, bắt đầu từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725), do đó ẩm thực chay đã trở thành nét văn hóa độc đáo của vùng đất này. Ngoài ra không gian ẩm thực chay cũng sẽ được tổ chức chung trong không gian ẩm thực của Festival lần này. Không gian ẩm thực dân gian được tổ chức ở hệ thống nhà rường, không gian xanh của nhà vườn Huế theo các khu vực: bánh Huế, chè Huế, đặc sản Huế, buffet cơm Huế, cơm muối Huế… Không gian ẩm thực đêm trên sông Hương được tổ chức trên sông Hương, tái hiện các thuyền bán đồ ăn đêm cho khách đi thuyền nghe ca Huế, chợ đêm trên sông…

Tại không gian chính dành tôn vinh ẩm thực 3 miền ở Quảng trường Ngọ Môn, cây xanh sẽ đóng góp một phần quan trọng làm nền cho không gian ẩm thực. Trong suốt thời gian diễn ra Festival nghề truyền thống Huế, ở công viên Thương Bạc và đường đi bộ Nguyễn Đình Chiểu sẽ là không gian trưng bày chính của cây cảnh với nhiều chủ đề như: cây cảnh nghệ thuật và cảm xúc thăng hoa, Huế - một không gian xanh, Thiền và cây cảnh...


http://www.baovanhoa.vn/GIAITRI/35324.vho

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Phóng sanh (Tâm Diệu)

Phóng sanh - Fish release, a tradition of compassion
This is a story on how, in the Buddha's previous life, as a boy he playfully knocked on the head of a fish three times, and later in his incarnation as the Buddha he had suffered a headache for three days. The consequences awaiting those who ate fish are also expounded in this famous Buddhist tale.

(Source) “Before the advent of Sakyamuni Buddha, there was near Kapila town a village inhabited by fishermen, and in it was a big pond. It happened that because of a great drought, the pond ran dry and all the fish were caught and eaten by the villagers. The last fish taken was a big one and before it was killed, a boy who never ate fish, played with it and thrice knocked its head.

Later, after Sakyamuni Buddha's appearance in this world, King Prasenajit who believed in the Buddha-dharma, married a Sakya girl who then gave birth to a prince called Crsytal. When he was young, Crystal had his schooling in Kapila which was then inhabited by the Sakya clansmen. One day while playing, the boy ascended to the Buddha's seat and was reprimanded by others who dragged him down. The boy cherished a grudge against the men and when he became king, he led his soldiers to attack Kapila, killing all its inhabitants.

At the same time, the Buddha suffered from a headache which lasted three days. When His disciples asked Him to rescue the poor inhabitants, the Buddha replied that a fixed Karma could not be changed. By means of his miraculous powers, Maudgalyayana rescued five hundred Sakya clansmen and thought he could give them refuge in his own bowl which was raised up in the air. When the bowl was brought down, all the men had been turned into blood.

When asked by His chief disciples, the Buddha related the story of the villagers who in days gone by had killed all the fish in their pond; King Crystal had been the big fish and his soldiers the other fish in the pond; the inhabitants of Kapila who were now killed had been those who ate the fish; and the Buddha Himself had been the boy who thrice knocked the head of the big fish. Karma was now causing Him to suffer from a headache for three days in retribution for his previous act. Since there could be no escape from the effects of a fixed Karma, the five hundred Sakya clansmen, although rescued by Maudgalyayana, shared the same fate. Later, King Crystal was reborn in a hell.

As cause produces effect which in turn becomes a new cause the retribution is inexhaustible. The law of causality is really very dreadful.” 


Quan điểm về ăn chay của đạo Phật
Biên soạn: Tâm Diệu
 
Phóng Sanh:
Trong Kinh Phạm Võng đức Phật dạy: "Tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta. Từ nhiều đời ta đều thác sanh nơi đó. Vì lẽ ấy nên chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ ta. Nếu giết chúng để ăn thịt, thời chính là giết cha mẹ ta, mà cũng là giết thân cũ của ta. Tất cả chất tứ đại đều là bổn thân bổn thể của ta, cho nên phải thường làm việc phóng sanh và khuyên bảo người khác làm. Nếu lúc thấy người đời sát sanh, nên tìm cách cứu hộ cho chúng được thoát khỏi nạn khổ."
 
Vì thế, là Phật tử, chúng ta không những ăn chay để tránh sát sanh, để nuôi dưỡng lòng từ bi, thể hiện tâm bình đẳng với muôn loài, không nỡ thấy những chúng sinh bị đâm giết, quằn quại đau thương trong vũng máu, mà chúng ta còn phải thể hiện tích cực hơn nữa là phóng sanh.
 
Phóng sanh là giải phóng những sinh vật khỏi bị giam tù trong lồng chậu, cởi trói cho những ai bị oan ức tù đầy.
 
Phóng sanh mang hai ý nghĩa quan trọng, là cứu mạng sống và trả lại quyền tự do cho chúng sinh, trong đó bao gồm cả con người và con vật. Hai tác động này sẽ mang lại hai quả báo tốt đẹp cho những ai thực hiện phóng sinh, là mạng sống được dài lâu, khỏe mạnh, và hưởng đời sống tự do qua quá trình nhân quả.
 
Đó là chưa kể đến phó sản tức là kết quả phụ của việc phóng sanh, như thường trở nên giầu có vì bỏ tiền riêng ra chuộc người hay mua súc vật sắp bị giết làm thịt để phóng sinh. Tiêu dùng tiền của vào những việc này thì sẽ được quả báo giầu có trở lại. Gieo một hạt cam còn được hái cả ngàn trái, huống chi cứu một con vật khỏi bị giết. Kết quả của công đức phóng sanh thật khó mà lường được.
 
Có những tai nạn máy bay rớt, xe lật mà đôi khi chỉ còn một người sống sót. Ai có thể giải thích được điều này?
 
Có những cuộc tàn sát tập thể dã man, lớn như cuộc tàn sát "holocaust" người Do Thái, vừa vừa như "killing fields" ở Cao Miên và tết Mậu Thân ở Huế, Việt Nam và nhỏ như những vụ bắn giết học sinh tại Arkansas, Oregon, Mississippi..v..v.. Họ bắn giết nhau một cách si mê. Ai có thể giải thích được điều này?
 
Phật giáo cho rằng đó là kết quả của nghiệp sát sanh và không phóng sanh. Nguồn gốc sâu xa của các trận chiến tranh tàn sát, chính là nghiệp sát sanh. Con người giết thú vật như điên dại, chỉ riêng ở Bắc Mỹ Châu cứ mỗi giây đồng hồ là có hơn 250 con vật bị giết làm thịt tại các lò sát sanh, tức hơn 8 ngàn triệu (tám tỷ) con bị giết hàng năm. Họ đâu biết rằng niềm oán hận ngập trời khó thể nào nguôi được. Đến khi chúng đền hết tội trở lại làm người, đó là lúc ân đền oán trả.
 
Thuở xưa ở thành Ca Tỳ La bên xứ Ấn Độ, có một làng đánh cá, gần làng có hồ rộng mênh mông, gặp lúc hạn hán mất mùa, bao nhiêu tôm cá trong hồ đều bị dân làng bắt ăn, đến con cá cuối cùng lớn nhất cũng bị làm thịt, chỉ có một đứa bé không hề thích ăn cá, đùa nghịch gõ lên đầu con cá lớn kia đến ba cái.
 
Đến thời Phật Thích Ca, vua Ba Tư Nặc là người sùng mộ đạo Phật, cưới một cô con gái dòng họ Thích Ca sinh ra một thái tử tên là Lưu Ly. Thuở ấu thơ, Lưu Ly thường hay qua bên thành Ca Tỳ La chơi. Một hôm vì đùa nghịch nơi tòa thuyết pháp của đức Phật, bị người gác mắng và đuổi ra ngoài, Lưu Ly nuôi hận trong lòng, đến khi lên ngôi vua, đem đại quân tấn công thành Ca Tỳ La, giết sạch cư dân trong thành, trong thời gian này đức Phật nhức đầu hết ba ngày, các vị đại đệ tử đến cầu xin Phật giải cứu. Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thần thông lấy bình bát thâu năm trăm người họ Thích Ca bay lên không, cho rằng đã cứu được họ, nhưng đến khi đổ ra, thì chỉ thấy toàn máu. Các vị đệ tử hỏi Phật nguyên do vì đâu.
 
Đức Phật bèn đem câu chuyện tiền kiếp thôn dân ăn cá kể lại, con cá lớn kia nay là vua Lưu ly, còn binh tướng theo Lưu Ly là bầy tôm cá trong hồ khi xưa, dân cư thành Ca Tỳ la bị giết chính là thôn dân ngày nọ, còn đứa nhỏ gõ đầu cá mà không ăn cá chính là đức Phật ngày nay chịu quả báo nhức đầu ba ngày là do hồi ấy gõ đầu con cá ba lần. Nghiệp khó chuyển nên bấy giờ họ Thích Ca năm trăm người, tuy được Mục Kiền Liên cứu ra, song vẫn không toàn tính mạng. Về sau vua Lưu Ly bị đọa vào địa ngục. Oan oan tương báo khó có ngày dứt.

 
Đó là câu chuyện nhân quả điển hình, có ghi trong sử sách Phật giáo, và vì thế, ngày nào con người còn tạo nghiệp sát sanh, còn thích ăn thịt cá, còn làm súng, còn săn bắn, còn giam giữ người và vật vô tội ngày đó còn có những cuộc tàn sát chiến tranh.
 
Là Phật tử, chúng ta nên thực hành lời Phật dạy nêu trên là không giết hại chúng sinh và nên phóng sinh.
 
Không giết hại chúng sinh (thể hệ qua việc thực hành ăn chay) và phóng sinh là hai điều vô cùng hệ trọng, không những nghiêm trì đệ nhất giới luật của đạo Phật trong tiến trình tu tập tự thân, mà còn thể hiện sự báo hiếu chân thật vào cao quý nhất đối với cha mẹ nhiều đời trong quá khứ, bởi vì như đức Phật dạy, chúng sanh từ đời này sang đời khác thay phiên lần lượt làm cha mẹ con cái của nhau. Ăn thịt chúng sinh tức là ăn thịt cha mẹ mình, là tội bất hiếu lớn nhất trong các tội bất hiếu.
 
Ngoài ra, theo kinh nghiệm, người ăn chay và hay phóng sinh thường có thân thể mạnh khỏe, ít tật bệnh, ít gặp tai nạn và thường được sống những nơi an ổn không thù hận và không chiến tranh.

http://www.quangduc.com/AnChay/08anchay2.html

Thứ Năm, 3 tháng 2, 2011

Văn Hóa Việt Nam: Truyền thống cúng cỗ chay trong Tết cơm Đe

Mâm cỗ chay cúng trong Tết cơm Đe của người dân Lạc Thịnh (Yên Thủy) 
There is a place in Việt Nam called Lạc Thịnh (meaning Happy and Prosperous) where making vegetarian offering is the main tradition for their Đe Rice Festival. It is located in Yên Thủy District, Hòa Bình Province, home of many Mường ethnic people, who are known for their hospitality, simplicty, and purity.

Về Lạc Thịnh vui Tết cơm Đe
Dương Liễu

(Hòa Bình Online) - Trong cái se lạnh của những ngày cuối tháng 10 âm lịch, bát cơm đe khiến đôi má thiếu nữ thêm ửng hồng, mâm cơm chay làm cả gia đình nhớ về những năm tháng khó khăn gian khổ nhưng thắm thiết ân tình đoàn kết. Thời gian đã làm cho Đình Rậm không còn giữ được nguyên trạng vẻ linh thiêng, cổ kính nhưng Tết cơm đe vẫn được người dân Lạc Thịnh (Yên Thủy) trân trọng, lưu giữ như một niềm tự hào dân tộc.

Tích xưa kể lại rằng, xưa có một vị tướng đem quân đi đánh giặc, trong lúc loạn lạc lại bị thương nên vị tướng đó phải vượt qua dãy núi Trường Sơn, chạy về Yên Thủy để lánh nạn. Đến vùng Mường Rậm xưa (nay là xã Lạc Thịnh), người đau, bụng đói, sức kiệt nên mới xin vào nghỉ nhờ tại nhà một gia đình dân tộc Mường. Trời lúc này chưa sáng hẳn, nhà nghèo, quanh năm chỉ có ngô, gạo để dành, trong nhà không có thịt, cá nhưng vì thương vị tướng, gia đình đã chạy ra vườn hái mấy quả mướp, đu đủ vào luộc, luộc thêm ít măng giang vừa lấy được hôm trước cho vị tướng ăn. Trước đây, ở các vùng Mường, hạt muối rất hiếm nên chủ nhà rang ít vừng cho vị tướng chấm. Trong lúc đang ăn, chủ nhà mới nhớ ra là gia đình mấy hôm vừa rồi có ủ cơm đe để chuẩn bị nấu rượu dùng cho ngày Tết Nguyên đán. Thế là chủ nhà vội lấy ra cho vị tướng dùng tạm. Thứ cơm này không còn là cơm nữa nhưng cũng chưa thành rượu, nó có vị thơm của gạo nếp hương, vị ngọt từ lá men rừng. Một chút thơm, một chút ngọt, một chút cay của cơm đe làm cho vị tướng thêm ấm lòng. Sáng hôm sau, trước khi ra đi, xúc động trước tấm chân tình, cảm thương vì sự nghèo khó của người dân nơi đây do hạn hán quanh năm, vị tướng này đã lập đàn cầu mưa. Thật linh diệu, vị tướng vừa cúng xong thì trời đổ mưa khiến người dân vui mừng khôn xiết. Từ đó đến nay, cứ đến gần ngày 26/10 âm lịch, vùng Mường Rậm trời lại âm u đổ mưa không to thì nhỏ.

Nhớ ơn vị tướng đánh giặc cứu nước lập đàn cầu mưa cho nhân dân nên hàng năm cứ đúng vào ngày 26/10 âm lịch, người dân Lạc Thịnh lại tổ chức Tết cơm đe. Không giống như các lễ, tết nông nghiệp khác, có cả hai phần lễ và hội, Tết cơm đe chỉ có phần lễ. Nghi lễ cúng trong Tết cơm đe được tiến hành vào khoảng 4, 5 h sáng, trước lúc mặt trời mọc. Theo quan niệm của người dân Lạc Thịnh, thời điểm này linh thiêng, mát mẻ và sạch sẽ nhất trong ngày. Khi đó, con kiến, con ruồi cũng chưa kịp thức dậy nên mâm cơm cũng giữ trọn vẹn được sự sạch sẽ.

Ông Quách Hữu Mưu - Chủ tịch UBND xã cho biết: Mâm cỗ cúng trong Tết cơm đe phải được đặt ở hướng chính giữa ngôi nhà sàn. Đặt mấy mâm tùy từng gia đình. Nét độc đáo của Tết cơm đe thể hiện ở mâm cúng là cỗ chay. Mâm cỗ cúng bao giờ cũng phải có quả đu đủ, quả mướp và măng giang luộc hoặc đồ chín. Vừng rang chín giã nhỏ, không cho gia vị làm đồ chấm, đặc biệt không thể thiếu cơm đe. Cơm đe được làm từ gạo nếp đồ chín ủ với men lá cây rừng, thường cơm đe được làm trước đó một tuần. Tất cả những lễ vật này bày trên tàu lá chuối xanh. Sau khi gia đình sắp lễ xong sẽ mời thầy mo uy tín nhất làng đến cúng. Trong lúc thầy mo cúng, những người trong gia đình sẽ ngồi theo thứ tự lùi dần từ cao xuống thấp. Kết thúc lễ cúng, cả gia đình tổ chức ăn Tết luôn trong sáng sớm. Mỗi người không phân biệt già trẻ, gái trai đều thưởng thức một bát cơm đe để lấy may và cầu khỏe mạnh.

Cùng với Tết Nguyên đán, Tết Độc lập thì Tết cơm đe là một trong 3 cái tết lớn nhất của người dân Lạc Thịnh. Tuy nhiên, theo lề lối, phép tắc truyền lại từ bao đời nay, ở Lạc Thịnh chỉ có dòng họ Bùi là dòng họ chính tổ chức Tết cơm đe. Các dòng họ như Quách, Nguyễn... chỉ đến chia vui chứ không làm lễ.

Về Lạc Thịnh ăn Tết cơm đe hôm nay có thể dễ dàng nhận ra những tác động của sự phát triển KT-XH lên cái tết truyền thống này. Tết cơm đe bây giờ được tổ chức to rộn ràng, ăn uống linh đình hơn thể hiện sự đủ đầy về vật chất. Nhưng có một điều đặc biệt và cũng là điều đáng quý nhất là những nghi lễ, phép tắc truyền thống vẫn được giữ nguyên. Nghi lễ cúng vẫn được diễn ra trước khi trời sáng, trên mâm cỗ cúng vẫn là những đồ ăn chay cổ truyền. Mở rộng sự giao lưu, trao đổi văn hóa, Tết cơm đe của Lạc Thịnh bây giờ được đông đảo bạn bè các xã bạn, huyện bạn đến cùng chia vui. Tết cơm đe còn là dịp để con cháu Lạc Thịnh đi xa tìm về quê hương, nguồn cội.

Với ý nghĩa thể hiện lòng biết ơn với các vị thần, tổ tiên gia đình mình, Tết cơm đe đã được lưu giữ khá nguyên vẹn bằng niềm tự hào, ý thức dân tộc của lớp lớp người dân Lạc Thịnh. Ngoài ra, Tết cơm đe còn nhắc nhở thế hệ cháu con nhớ về những năm tháng khó khăn, thiếu thốn của cha ông để từ đó có thêm ý chí, nghị lực xây dựng cuộc sống ấm no, đầy đủ. Là cơ hội để anh em xa gần, làng trên,  xóm dưới hội tụ, Tết cơm đe đã thắt chặt thêm tình đoàn kết anh em của người dân Mường Rậm. 


http://www.baohoabinh.com.vn/40/55507/Ve_Lac_Thinh_vui_Tet_com_De.htm

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Tản mạn cùng món ăn chay ngày Tết

Canh kiểm chay - Vegan coconut & pumpkin soup
Vegan traditions and dishes in southern Việt Nam have existed since long ago. Vietnamese Cao Đài devotees, Hòa Hảo adherents, and Buddhists especially are used to the concept of "ăn chay" (eating veg). Southern Vietnamese vegan food is quite versatile, consisting mainly of five categories: soups, braised dishes, stir-fried dishes, salads, and sauces. Lots of coconut and fresh roots, vegetables! Everything is just so rich and yummy all around!

Tản mạn cùng món ăn chay ngày Tết

Dương Hoàng Lộc

Ngày nay, trên thế giới, ăn chay là thời thượng, có tính văn hóa và văn minh cao. Ở Việt Nam, ngay từ ngày đầu năm mới, người ta thường ăn chay bên cạnh việc đi chùa lễ Phật, hái lộc đầu năm. Vì vậy, ăn chay ngày Tết mang ý nghĩa tâm linh, là nét văn hóa Tết độc đáo của dân tộc ta. Cũng cần nói thêm, ở Nam bộ, ăn chay ngày Tết là hiện tượng khá phổ biến ở một số gia đình từ nông thôn đến thành thị. Tản mạn cùng món chay ngày Tết cũng là góp phần tìm hiểu văn hóa Tết của người dân đất phương Nam.

Nhắc đến ăn chay hay ăn lạt, ăn tương, người ta thường nghĩ đó là cách ăn của những người theo đạo Phật, không sử dụng nguyên liệu chế biến từ động vật mà chỉ dùng toàn bằng thực vật. Cẩn thận hơn, một số người ăn chay còn không dùng cả sữa, trứng, bơ… Một bữa ăn chay thật tinh khiết là không sử dụng các gia vị như hành, tỏi, tiêu, ớt, hẹ...vì các thứ này làm cho người tu dễ khởi nhiều dục vọng. Phật giáo chủ trương ăn chay giúp con người bớt sát sanh, bớt tạo nghiệp ác, để gieo lòng từ bi, hướng thiện. Trong ngũ giới cấm của nhà Phật  có giới cấm sát sinh. Do đó, cấm sát sinh và ăn chay có mối quan hệ thống nhất, chặt chẽ với nhau.

Ở Việt Nam chưa biết ăn chay có vào lúc nào, nhưng chắc rằng vào giai đoạn Lý-Trần, thời điểm hưng thịnh của Phật giáo, ăn chay đã phổ biến từ tầng lớp quí tộc cho đến thường dân. Ở Nam bộ, Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người dân. Vì đây là vùng đất khẩn hoang, nên họ rất cần nhu cầu tâm linh và đạo Phật đã đáp ứng điều đó. Do vậy, có thể đó là nguyên nhân của ăn chay và ăn chay ngày Tết khá phổ biến ở người dân Nam bộ buổi đầu khẩn hoang.

Đối với một số tôn giáo bản địa ở Nam bộ (Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương...), do chịu ảnh hưởng khá đậm của Phật giáo, đã chủ trương tín đồ ăn chay. Những người ăn chay thường ăn theo: Nhị trai (ngày 15 và mùng 1), tứ trai (ngày 14, 15 và 30, mùng 1), lục trai (ngày mùng 1, 8, 14, 15, 23 và 30) và thập trai (ngày mùng 1, 6, 14, 15, 23, 24, 28, 29 và 30) trong một tháng. Có người còn ăn chay luôn cả 3 tháng có rằm lớn: Tháng giêng, tháng bảy và tháng mười. Nhưng cao nhất là trường trai: ăn chay trường.

Trong đạo Cao Đài, qui tắc cơ bản và quan trọng đối với người tín đồ là phải tập trai giới, từ lục trai đến thập trai và cao nhất là trường trai. Do cả năm bề bộn công việc mưu sinh, nên một số người chỉ ăn chay vào ngày mùng 1 Tết để bù cho cả năm, nhằm cầu phước đức, may mắn cho năm mới và sám hối những gì đã làm không phải trong năm cũ. Từ đó đã giúp phần nào hiểu được nguyên nhân tại sao ăn chay phổ biến trong đời sống người dân Nam bộ, trong đó có ngày Tết.

Đặc biệt, hiện nay có một số người ăn chay trường do bệnh tật, giúp tốt cho sức khỏe. Y học đã chỉ ra lợi ích của việc ăn chay là ngừa bệnh ung thư, tăng cường hệ miễn dịch, tăng tuổi thọ, thêm chỉ số thông minh, hạ huyết áp, ngừa bệnh tiểu đường, giảm cholesterol, chống xơ cứng động mạch và ngừa tai biến mạch máu não… Hơn nữa, người ta còn cho biết ăn chay giúp cho hành tinh chúng ta được xanh và sạch hơn, bảo tồn nguồn nước sạch, giảm ô nhiễm môi trường, bảo tồn nhiều loại động vật, tiết kiệm khí thải, hạn chế phát hoang rừng để làm đồng cỏ nuôi gia súc, giải pháp cho nạn đói trên thế giới… Do đó mới có các khẩu hiệu: Ăn chay vì sức khỏe, ăn chay vì tiết kiệm, ăn chay vì môi sinh, ăn chay từ bi, ăn chay cao thượng, ăn chay hòa bình…

Mấy ngày cuối năm, đối với những gia đình có ăn chay, mấy bà nội trợ đã lo mua hoặc tự làm nguyên vật liệu để nấu các món chay cho mấy ngày Tết như: tàu hủ, tàu hủ ky, bánh tráng, rau củ, tương, chao…Đặc biệt, người ta hay làm món bó xổ chay. Tàu hủ ky loại miếng mỏng, ngâm nước cho mềm, luộc chín, cắt nhuyễn rồi trộn gia vị. Sau đó bó chặt hỗn hợp này vào túi ni-lông theo nhiều kích cỡ. Bó xổ khi cắt ngang có hình tròn, để ăn hoặc kho, nấu canh...
 

Món chay ở Nam bộ khá đa dạng, nhưng có thể tạm xếp làm 5 loại chính: Món canh, món kho, món xào, món gỏi và món chấm.

Đầu tiên là món canh. Có rất nhiều loại canh chay ăn trong dịp Tết như: canh nấm, canh khổ qua hầm, canh củ (khoai tây, cà rốt, củ sắn...) Nhưng quan trọng nhất phải có món canh kiểm. Muốn nấu nồi kiểm phải chuẩn bị mít chín, chuối, khoai mì, khoai môn, bột khoai, bí rợ, mướp và nước cốt dừa…. Người ta vắt nước cốt dừa rồi đun sôi trên bếp than, nước cốt đầu tiên để riêng, rồi bỏ các nguyên liệu trên vào nấu. Khi nồi kiểm gần chín mới bỏ nước cốt đầu vào. Như vậy, nồi canh mới béo. Khi múc ra, tô canh kiểm trông bắt mắt với màu trắng đục của nước cốt dừa, màu vàng của bí, của khoai, của mít và màu xanh của mướp... Canh kiểm chan với cơm hay ăn kèm với bún hoặc là ăn không. Ai có ăn món này mới cảm thấy có cả vị béo, vị bùi, vị ngọt hòa lẫn vào nhau. Ở Bến Tre, người ta còn bỏ thêm vào nồi canh tàu hủ và tàu hủ ky loại lát lẫn cọng. Miệt Tiền Giang, mấy bà thích sử dụng chuối sáp, chuối ngự để nồi kiểm có vị dẻo và lạ.

Kế đến là món kho hoặc khèo như: khổ qua dồn đậu hủ kho tương, đậu hủ kho với đậu, cà rốt và củ cải trắng, tàu hủ ky hay bó xổ khèo với nước dừa tươi... Ngoài ra còn có món thịt heo quay chay kho nước dừa. Bánh mì cắt lát, để khô, ướp nước tương rồi đem chiên sơ. Sau đó đem đi kho với nước dừa tươi. Ở miệt có nhiều dừa như Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, người ta nạo phần cơm của dừa khô, dừa già, cắt nhỏ lại rồi bỏ lên chảo dầu, cho thêm nước tương và gia vị. Món này ăn béo, thơm, được gọi là món dừa rám.

Món xào cũng đa dạng không kém như: món đậu, cà rốt xào với tàu hủ, hủ tiếu xào giá hẹ, củ sắn xào... Đặc biệt, món củ sắn xào rất thường gặp. Củ sắn và cà rốt cắt nhuyễn xào với tàu hủ chiên để ăn hoặc cuộn chung bánh tráng, rau sống. Đây là món ăn chay thường dùng ở Nam bộ trong ngày Tết, ngày rằm.

Món gỏi chay thì có nhiều loại: gỏi rau ghém chuối, gỏi ngó sen, gỏi bồn bồn, gỏi khổ qua... Nhưng có một món gỏi rất lạ và ngon, dùng riêng cho ngày Tết: gỏi bắp chuối gà chay. Bắp chuối chọn loại mới hái trên cây, tách từng bẹ ra, lấy những trái nhỏ và bỏ phần xơ trên đầu chúng. Sau đó đem bẹ và trái đi ngâm nước (có vắt tí chanh), rồi đem cắt dọc tất cả. Cắt xong, đem chúng đi trụng sơ nước sôi để khi ăn không còn chát. Chọn lá vạn thọ còn tươi, xanh um cắt nhỏ hoặc để nguyên rồi trộn vào, cho thêm giấm và đường. Mì căn xé nhỏ, đem chiên rồi cho vào hỗn hợp trên. Món gỏi này ăn có mùi thơm ngái, giòn nhưng mềm, nhiều chất xơ.

Cuối cùng là các món chấm như: nước tương, tương hột hoặc xay, chao… Nước tương dùng chấm với các món xào, món gỏi. Ăn nguyên chất hay pha với tỏi, ớt, chanh và đường thì ngon hơn. Đặc biệt hơn, món tương hột khèo với nước cốt dừa, có vị béo ngậy, dùng để ăn hoặc chấm thật hấp dẫn. Ở vùng Chợ Đào (huyện Cần Đước, tỉnh Long An) còn có món tương đậu dùng kèm với các món chay, hoặc chấm với rau, ăn với bún. Ai từng ăn thì nhớ mãi.

Ngày Tết, để làm phong phú thêm cho bữa chay, người ta còn gói bánh tét, bánh ít, trước để cúng và sau để biếu, ăn. Bánh tét chay hay còn gọi là bánh tét ngọt để phân biệt với bánh tét mặn. Có nhiều loại bánh tét chay như: bánh tét nước tro, bánh tét chuối … Cầu kỳ hơn, mấy bà còn gọi bánh tét có nhân gồm đậu xanh bên ngoài, bên trong là tàu hủ ky cọng và bí đao. Ăn bánh tét chay ngày Tết thì có vị ngọt của chuối, vị bùi của đậu, vị béo của nước cốt dừa và vị dẻo của nếp trộn lẫn vào nhau. Ngoài bánh tét, bánh ít gồm nhiều loại: bánh ít nhân dừa, bánh ít nhân đậu xanh, bánh ít nhân hỗn hợp dừa-đậu...góp phần cho bữa chay thêm đa dạng.

Ở Sài Gòn, mấy ngày cuối năm bận rộn, người ta thường đến các quán chay như: Giác Đức, Thuyền Viên... để mua đồ chay về cúng và ăn vào ngày Tết. Những người khá giả và sành điệu thì đến các nhà hàng chay có tiếng như: Nàng Tấm, Hoa Đăng, Việt Chay, Hương Sen... để ăn. Dân Sài Gòn ăn chay hơi khác với thôn quê vì có rất nhiều món chế biến giống tên gọi các món mặn: mắm chưng trứng, cá thu sốt cà, chạo tôm, phá lấu, gà kho nấm đông cô, cá trê và cá kèo kho tiêu, lẩu Thái Lan, lẩu mắm, cánh gà quay, cá chẻm sốt cà, cơm gói lá sen, thịt kho trứng... Thật không thể kể hết được. Đó là sự thăng hoa của món chay ở đây. Sở dĩ có điều này vì Sài Gòn có nhiều nguyên liệu chay được bày bán trong các siêu thị, các cửa hàng chay như: tôm chay, thịt heo chay, mực chay, sườn heo chay, cá thu chay, bò chay, xúc xích chay, lạp xưởng chay, pa tê chay... Những nguyên liệu này được nhập từ Đài Loan, Hồng-Kông hay được chế biến từ công ty Âu Lạc. Ngoài ra, đó còn là nhu cầu về thị hiếu, thẩm mỹ của dân ăn chay đô thị.

Tuy nhiên, một số người có ý kiến : “Ăn chay mà tâm mặn nên mới bày ra cách gọi và chế biến giống món mặn”. Có phải vậy không? Đời Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ, một thiền gia xuất sắc, nổi tiếng không chấp vào việc ăn chay hay mặn vì ông đã đạt trình độ tu tập cao, chế ngự được tâm và phá được chấp ngã. Còn đối với người thường, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, việc ăn chay còn rất hạn chế. Do vậy, để giúp họ đến với ăn chay và sự hướng về Phật pháp thì buộc phải linh hoạt, tùy duyên hóa độ. Phải chăng việc chế biến và đặt tên các món chay theo kiểu món mặn chẳng qua là bước chuyển ban đầu để con người bỏ bớt sát sinh, biết tạo nghiệp lành, phát khởi từ bi? Các món chay dạng này rất hữu ích cho những người đang bước đầu tập tu.

Món chay ở Nam bộ có nhiều đặc trưng nổi bật. Thứ nhất là sử dụng khá nhiều nước cốt dừa, có vị béo để dinh dưỡng và đỡ ngán cho người ăn chay, vì Nam bộ trồng khá nhiều cây dừa. Có người còn cho biết thêm nước cốt dừa là do người Việt đã tiếp thu từ người Khmer. Thứ hai, món chay ở đây khá đa dạng, phong phú bởi Nam bộ là vùng có nhiều sản vật, cây trái, góp phần tạo nên nguồn nguyên liệu dồi dào cho món chay. Ngoài ra, đó còn là việc du nhập các nguyên liệu nấu chay từ Đài Loan, Hồng Kông vào đất Sài Gòn. Thứ ba, món chay của người dân nơi này được chế biến khá linh hoạt từ dân dã, đơn giản cho đến cầu kỳ, kiểu cách tùy thuộc vào nhu cầu của mỗi người, mỗi khu vực. Thứ tư, dường như các món chay của bà con tín đồ đạo Cao Đài ở Nam bộ được chế biến công phu và nhiều kỹ thuật hơn.
    
Với những ngày đầu năm, người ta ăn món gì thì cúng ông bà tổ tiên món nấy. Có người chỉ ăn chay ngày mùng 1 hoặc hai ngày 30, mồng 1 hoặc cả ba ngày Tết, thậm chí cả tháng giêng. Cúng chay ngày Tết mang ý nghĩa cầu mong cho cửu huyền thất tổ được nhiều phước lành, hướng về Phật pháp, hướng về điều lành, được thanh thản và sớm siêu thoát. Mặt khác, ăn chay ngày Tết giúp cho mỗi người biết hướng về điều thiện, điều lành, phát từ tâm, tạo nhân duyên tốt…ngay từ những ngày khởi đầu năm mới. Ăn chay ngày Tết cũng góp phần chứng minh sự ảnh hưởng khá sâu sắc của Phật giáo vào đời sống văn hóa người Việt Nam, trong đó có văn hóa Tết.
    
Trong thời khắc giao hòa của năm cũ và năm mới, bữa cơm chay đã mang đến cho con người sự an lạc và thanh tịnh biết mấy!

(Nguồn: Tạp chí Cao Đài số 3-Xuân Canh Dần 2010)


http://www.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=896:tn-mn-cung-mon-n-chay-ngay-tt&catid=97:vn-hoa-dan-gian&Itemid=155

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Đức Vua Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm

Enlightened King Trần Nhân Tông (1258-1308), the third emperor of the Trần dynasty in Việt Nam, was a wise leader, having brought long-time peace and prosperity to his nation. He was also the founder of the renowned Trúc Lâm Zen tradition. Trúc Lâm First Patriarch was as well an esteemed poet, nature lover, and a vegetarian. Việt Nam, in fact, has been blessed with shining and noble role models who lived the compassionate and gentle vegetarian way.

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I
Tác giả: Nguyễn Lang

Trích Chương 12: Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm

Năm 1299, vua Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau này vua đổi hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà). Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử. Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Nhân Tông và Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng đồng thời cũng là những Phật tử thật sự...

Một thời gian sau ngày xuất gia, vua Nhân Tông đổi pháp hiệu là Trúc Lâm. Ta biết rằng vị tổ thứ hai của thiền phái Yên Tử, thiền sư Ðạo Viên (hay Viên Chứng) ngày xưa đã được ban hiệu là Trúc Lâm quốc sư. Nhân Tông đã xuất gia và đã trở nên một vị cao tăng, tổ thứ sáu của phái Yên Tử và là tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm: ta gọi vua bằng pháp hiệu Trúc Lâm của vua, trong khi không quên rằng Trúc Lâm quốc sư Ðạo Viên là vị tiền bối của vua.

Trúc Lâm Ðầu Ðà tên tục là Trần Khâm, con của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lê ngôi vua năm 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi và tịch năm 1308 vào lúc 51 tuổi. Tác giả Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: "Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Ðồng Tử; ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng hà ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền đời Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân". Sử thần Ngô Sĩ Liên còn nói: "Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dười dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải là bậc nhân minh anh vũ thì làm sao được như thế? Duy có việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung". Ðó là những lời phê bình về vua Nhân Tông của các sử thần theo Nho Giáo.

Hồi còn nhỏ tuổi, Trúc Lâm đã có ý không muốn làm vua. Và muốn nhường địa vị đông cung thái tử cho em. Sách Tam Tổ Thực Lục nói: "Một đêm vào giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử, đến chùa ở núi Ðông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về.

Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh. Một hôm ngủ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: "Biết đức Phật này không? Ðó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!" Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông thấy thế làm lạ, hỏi. Ðiều Ngự (tức Nhân Tông) cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: Ta đã già, cậy vào một mình ngươi, nếu người như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông? Ðiều Ngự cũng khóc. Ðiều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu Thiền học. Ðiều Ngự cũng tìm tới tham khảo với Tuệ Trung thượng sĩ, và do đó thâm nhập được cốt tủy của Thiền học, cho nên thường lấy tư cách đệ tử để đối đãi với Tuệ Trung.

Ðã đành Trúc Lâm thờ Tuệ Trung làm thầy, nhưng khi xuất gia thọ 250 giới của một vị tỳ khưu vì Tuệ Trung vốn là cư sĩ, không thể truyền giới cho vua được. Ai là hòa thượng trao truyền giới pháp cho Trúc Lâm, và vua thọ giới ở đâu? Hẳn người làm hòa thượng đường đầu truyền giới là thiền sư Huệ Tuệ, lúc ấy đang lãnh đạo sơn môn Yên Tử, tổ sư thứ 5 của thiền phái. Và lễ thọ giới xuất gia của Trúc Lâm chắc chắn được tổ chức trên núi Yên Tử.

Trúc Lâm tuy học với Tuệ Trung nhưng khác với Tuệ Trung ở chỗ vua rất chú trọng về mặt hình tướng của sự việc. Trúc Lâm xứng đáng là vị sáng tổ của một tông phái, người lãnh đạo của một giáo hội. Vua có ý định xuất gia rất sớm, nhưng ý định này chỉ được thực hiện vào năm 1299.

Trước đó vua đã ăn chay học Phật một cách kính cẩn. Năm gần đi xuất gia, vua mời Văn Túc Vương Ðạo Tái (con của Trần Quang Khải) đến chơi ăn cơm. Vốn rất yêu mến Văn Túc Vương Ðạo Tái, vua mời Ðạo Tái vào chơi ở Dưỡng Ðức điện trong cung Thánh Từ và sai người làm các thức hải vị mời Ðạo Tái. Vua vốn đã ăn chay rồi, nên chỉ ngồi nhìn Ðạo Tái ăn. Vua có làm bài thơ như sau:

Món quy cước đỏ thắm
Món mã yên vàng thơm
Sơn tăng giữ tịnh giới
Cùng ngồi không cùng ăn


Chưa đi xuất gia nhưng tự xem mình như một vị "sơn tăng" rồi, thì biết vua đã chuẩn bị kỹ lưỡng biết bao cho việc xuất gia của mình! Tháng Bảy năm 1299, vua xây một thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am. Xây dựng chỉ sơ sài thôi, bởi vì sang tháng Tám vua đã đi xuất gia...

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Truyền Thống Ăn Chay: Cách đây 30.000 năm, người tiền sử ăn gì?

Cách đây 30.000 năm, người tiền sử ăn gì?

[Việt Nam Ăn Chay] Theo kết quả nghiên cứu đăng hôm thứ hai 18/10/2010, trên tạp chí của Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia, chất bột tìm thấy trên đá mài 30.000 năm trước có một ý nghĩa quan trọng:  Trái với hình ảnh phổ thông trong công chúng ngày nay, thường xem người tiền sử là người ăn thịt, thật ra có lẽ tổ tiên chúng ta đã ăn bánh mì làm từ thực vật!

Nghiên cứu gia Laura Longo từ Viện Ý Đại Lợi Nghiên Cứu Tiền Sử và Cận Sử cho biết: “Bánh đó giống như bánh mì phẳng, một loại bánh kếp chỉ gồm bột và nước.”  Cô nói thêm: “Làm giống như bánh mì túi pita, rồi nướng trên lò nóng.”

Các đá mài này nhỏ vừa vặn, nằm gọn trên lòng bàn tay, được khám phá tại các nơi khảo cổ ở Ý, Nga và Cộng hòa Tiệp. Lúc trước, một số đá mài cũng đã được tìm thấy ở Do Thái, nhưng chỉ độ chừng 20.000 năm tuổi. Thế là dựa vào nghiên cứu mới nhất, loài người đã biết làm bột cách đây ít nhất 30.000 năm.

Theo tin Reuteurs, kết quả này cũng làm sụp đổ những lý thuyết trước đây, cho rằng loài người khi xưa đã theo lối ăn thịt.

Còn gọi là lối ăn của “người hang động” (caveman diet), thuyết này không tin là người xưa biết ăn bánh mì và ngũ cốc. Thuyết ăn thịt do Walter L. Voegtlin chủ trương, quyển sách phát hành năm 1975 của ông cổ võ lối ăn từ đi săn và lượm hái (thay vì trồng trọt).

Khoa học năm 2010 đã tiến bộ; chúng ta biết nhiều hơn về các chất bổ, chất đạm, chất dinh dưỡng trong thức ăn. Hàng triệu người xinh đẹp, khỏe mạnh, tài ba, thông thái, trí tuệ trên toàn cầu là những người trường chay, có người từ thuở còn trong bụng mẹ.

Khám phá mới nhất về lương thực của người tiền sử lại càng nêu cao sự hợp lý của truyền thống ăn chay trong nhân loại.

Nguồn tham khảo: http://uk.reuters.com/article/idUKTRE69H4FT20101018
 

Bài đăng phổ biến