Hiển thị các bài đăng có nhãn Gương Sáng Muôn Đời. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gương Sáng Muôn Đời. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Gương Sáng Muôn Đời: Nhà văn Lev Tolstoi, tiểu thuyết gia Nga & người trường chay

 Nhà văn Leo Tolstoy trong thư phòng 
(Tranh sơn dầu Ilya Repin, 1891)
(Viện Bảo tàng Văn chương Quốc gia, Mạc Tư Khoa, Nga)

Leo Tostoy, one of Russia's - and the world's - greatest writers (War and Peace, Anna Karenina, Sevastapol Sketches, The Cossacks...) was a vegetarian and peace advocate.

Nguồn: Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lân Dũng / Báo Nông Nghiệp Việt Nam
Ngày 22 tháng 2, 2011

Hỏi:
Tại sao người ta nói Lev Tolstoi Nikolayevich là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong mọi thời đại? Xin cho biết sơ qua tiểu sử và các tác phẩm để đời của ông. (Bùi Thành Công, huyện Phong Điền, TP Cần Thơ)

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Tolstoi (Lev Nikolaevič Tolstoj) sinh ngày 9/9/1828 và mất ngày 20/11/1010. Ông là một tiểu thuyết gia người Nga, nhà triết học, người theo chủ nghĩa hòa bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ, tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoi.

Tolstoi được yêu mến ở khắp mọi nơi như một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, đặc biệt nổi tiếng với kiệt tác “Chiến tranh và hòa bình” và “Anna Karenina”; miêu tả sự phóng khoáng và hiện thực của cuộc sống Nga, hai tác phẩm là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Tuổi thơ và thời niên thiếu của Tolstoi là sự xê dịch giữa Moskva và Yasnaya Polyana, trong một đại gia đình với ba người anh trai và một chị gái. Mẹ ông qua đời khi ông mới lên hai, và cha ông cũng mất khi ông mới lên chín.

Sự giáo dục sau đó của ông được giao vào tay người cô họ, Madame Ergolsky, người được cho là hình mẫu của Sonya trong tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” (cha ông và mẹ ông cũng là hình mẫu của các nhân vật Nicholas Rostov và Công chúa Marya trong tiểu thuyết đó). Năm 1844, Tolstoi bắt đầu học luật và các ngôn ngữ phương Đông tại Đại học Kazan. Năm 1849 ông về cư trú tại Yasnaya Polyana, nơi ông cố gắng trở nên hữu ích cho những người nông dân của mình nhưng nhanh chóng khám phá ra sự vô dụng của lòng nhiệt tình thiếu hiểu biết của mình.

Từ rất sớm, trong nhật ký của ông cho thấy một sự đau khổ không bao giờ thỏa mãn về giá trị đạo đức của cuộc sống, một sự đau khổ sẽ còn mãi và là xung lực mang tính quyết định trong trí óc ông. Thử nghiệm văn chương đầu tiên của Tolstoi là tác phẩm dịch cuốn “Một chuyến đi đầy xúc cảm qua Pháp và Ý”. Tới năm 1851 một trong những nỗ lực tham vọng hơn và rõ rệt hơn về một phong cách sáng tác mới là truyện ngắn đầu tay của ông, "Một lịch sử của ngày hôm qua".

Cùng năm ấy, buồn chán về cuộc sống dường như trống rỗng và vô nghĩa tại Moskva, khiến ông mang nợ vì cờ bạc, ông tới Caucasus, và gia nhập một đơn vị pháo binh đồn trú tại khu vực Cossack của Chechnya, với tư cách một binh nhì tình nguyện, nhưng mang dòng dõi quý tộc. Năm 1852 ông hoàn thành tiểu thuyết đầu tiên “Thời thơ ấu.” Dù Tolstoi khó chịu với những cắt xén của nhà xuất bản, quyển sách ngay lập tức thành công khiến Tolstoi có được một vị trí xác định trên văn đàn Nga.

Tại khẩu đội pháo của mình Tolstoi sống một cuộc đời dễ chịu và không phiền phức nhờ tư cách một sĩ quan quý tộc. Tại Sevastopol ông viết cuốn “Những mẩu chuyện Sevastopol,” được nhiều người coi là cố gắng đầu tiên của ông nhằm có được những kỹ thuật sẽ được áp dụng hiệu quả sau này trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình.” Năm sau ông rời quân ngũ, hoàn toàn ghê tởm với sự chém giết vô nghĩa đã chứng kiến.

Những năm 1856- 1861 ông sống tại Petersburg, Moskva, Yasnaya, và ở nước ngoài. Năm 1857 (và một lần nữa trong giai đoạn 1860-1861) ông đi ra nước ngoài và quay trở về với sự vỡ mộng về tính ích kỷ và chủ nghĩa vật chất của nền văn minh tư sản Châu Âu, một cảm giác được thể hiện trong truyện ngắn “Lucerne” và gián tiếp hơn trong tác phẩm “Ba cái chết của ông.” Khi bắt đầu có quan điểm thiên về phương Đông hơn với ảnh hưởng từ Phật giáo, Tolstoi học cách tự nhận thức mình thông qua những sinh thể sống.

Ông bắt đầu viết “Kholstomer,” với một đoạn độc thoại nội tâm của một chú ngựa. Nhiều suy nghĩ riêng tư của ông đã được phản ánh thông qua một nhân vật chính trong tác phẩm “Người Cô dắc”...


http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/122/21/21/71881/Default.aspx

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Truyền Thống Ăn Chay: Đức Vua Trần Nhân Tông, Sơ Tổ Thiền Phái Trúc Lâm

Enlightened King Trần Nhân Tông (1258-1308), the third emperor of the Trần dynasty in Việt Nam, was a wise leader, having brought long-time peace and prosperity to his nation. He was also the founder of the renowned Trúc Lâm Zen tradition. Trúc Lâm First Patriarch was as well an esteemed poet, nature lover, and a vegetarian. Việt Nam, in fact, has been blessed with shining and noble role models who lived the compassionate and gentle vegetarian way.

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận I
Tác giả: Nguyễn Lang

Trích Chương 12: Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm

Năm 1299, vua Nhân Tông xuất gia tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Ðầu Ðà (sau này vua đổi hiệu là Trúc Lâm Ðầu Ðà). Vua được nhận là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu, tiếp nối vị tổ thứ năm là thiền sư Huệ Tuệ. Từ đó trở đi, phái Yên Tử trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và giữa nhân gian. Một ông vua đã từng đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên, một ông vua đã đem hòa bình và thịnh trị về cho dân, một ông vua như thế khi đi xuất gia chắc chắn đã gây nên một tiếng vang lớn và khiến tất cả mọi người trong nước hướng nhìn về ngọn núi Yên Tử. Đạo Phật trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia. Nhân Tông và Anh Tông là những nhà chính trị giỏi, nhưng đồng thời cũng là những Phật tử thật sự...

Một thời gian sau ngày xuất gia, vua Nhân Tông đổi pháp hiệu là Trúc Lâm. Ta biết rằng vị tổ thứ hai của thiền phái Yên Tử, thiền sư Ðạo Viên (hay Viên Chứng) ngày xưa đã được ban hiệu là Trúc Lâm quốc sư. Nhân Tông đã xuất gia và đã trở nên một vị cao tăng, tổ thứ sáu của phái Yên Tử và là tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm: ta gọi vua bằng pháp hiệu Trúc Lâm của vua, trong khi không quên rằng Trúc Lâm quốc sư Ðạo Viên là vị tiền bối của vua.

Trúc Lâm Ðầu Ðà tên tục là Trần Khâm, con của vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lê ngôi vua năm 20 tuổi, xuất gia năm 41 tuổi và tịch năm 1308 vào lúc 51 tuổi. Tác giả Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: "Vua được tinh anh của thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng, hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên Ðồng Tử; ở vai bên tả có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn; ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng hà ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp phục hưng làm vẻ vang đời trước, thực là vua hiền đời Trần. Song vui lòng ở kinh Phật, tuy bảo là đến siêu thoát, nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân". Sử thần Ngô Sĩ Liên còn nói: "Nhân Tông trên thờ Từ Cung tỏ rõ đạo hiếu, dười dùng người hiền lập nên võ công, nếu không phải là bậc nhân minh anh vũ thì làm sao được như thế? Duy có việc xuất gia là không hợp với đạo trung dung". Ðó là những lời phê bình về vua Nhân Tông của các sử thần theo Nho Giáo.

Hồi còn nhỏ tuổi, Trúc Lâm đã có ý không muốn làm vua. Và muốn nhường địa vị đông cung thái tử cho em. Sách Tam Tổ Thực Lục nói: "Một đêm vào giờ Tý, vua vượt thành mà đi, muốn vào núi Yên Tử, đến chùa ở núi Ðông Cứu thì trời sáng, liền vào ẩn trong tháp. Vị tăng trụ trì thấy tướng mạo dị thường liền đem thức ăn khoản đãi. Hôm ấy thái hậu và vua Thánh Tông sai quần thần tìm tứ tán, bất đắc dĩ vua phải về.

Khi lên ngôi, tuy ngồi lên chín bệ vinh quang nhưng sinh hoạt rất thanh tịnh. Một hôm ngủ trưa tại chùa Tư Phúc trong đại nội vua mộng thấy trên rốn mình nở ra một hoa sen lớn như bánh xe, trên đó có một đức Phật vàng. Bên cạnh, có người chỉ vào vua mà hỏi: "Biết đức Phật này không? Ðó là đức Biến Chiếu Tôn đấy!" Vua tỉnh thức, đem giấc mộng nói lại cho Thánh Tông nghe, ai cũng lấy làm lạ. Từ đó thường ăn chay tránh thịt cá, long nhan gầy mòn. Thánh Tông thấy thế làm lạ, hỏi. Ðiều Ngự (tức Nhân Tông) cứ thực trình bày. Thánh Tông khóc nói: Ta đã già, cậy vào một mình ngươi, nếu người như thế làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông? Ðiều Ngự cũng khóc. Ðiều Ngự thánh tính thông minh, hiếu học, nhiều tài, đọc khắp các loại sách thông suốt cả đến nội điển, thường mời các vị thiền khách tới cùng giảng cứu Thiền học. Ðiều Ngự cũng tìm tới tham khảo với Tuệ Trung thượng sĩ, và do đó thâm nhập được cốt tủy của Thiền học, cho nên thường lấy tư cách đệ tử để đối đãi với Tuệ Trung.

Ðã đành Trúc Lâm thờ Tuệ Trung làm thầy, nhưng khi xuất gia thọ 250 giới của một vị tỳ khưu vì Tuệ Trung vốn là cư sĩ, không thể truyền giới cho vua được. Ai là hòa thượng trao truyền giới pháp cho Trúc Lâm, và vua thọ giới ở đâu? Hẳn người làm hòa thượng đường đầu truyền giới là thiền sư Huệ Tuệ, lúc ấy đang lãnh đạo sơn môn Yên Tử, tổ sư thứ 5 của thiền phái. Và lễ thọ giới xuất gia của Trúc Lâm chắc chắn được tổ chức trên núi Yên Tử.

Trúc Lâm tuy học với Tuệ Trung nhưng khác với Tuệ Trung ở chỗ vua rất chú trọng về mặt hình tướng của sự việc. Trúc Lâm xứng đáng là vị sáng tổ của một tông phái, người lãnh đạo của một giáo hội. Vua có ý định xuất gia rất sớm, nhưng ý định này chỉ được thực hiện vào năm 1299.

Trước đó vua đã ăn chay học Phật một cách kính cẩn. Năm gần đi xuất gia, vua mời Văn Túc Vương Ðạo Tái (con của Trần Quang Khải) đến chơi ăn cơm. Vốn rất yêu mến Văn Túc Vương Ðạo Tái, vua mời Ðạo Tái vào chơi ở Dưỡng Ðức điện trong cung Thánh Từ và sai người làm các thức hải vị mời Ðạo Tái. Vua vốn đã ăn chay rồi, nên chỉ ngồi nhìn Ðạo Tái ăn. Vua có làm bài thơ như sau:

Món quy cước đỏ thắm
Món mã yên vàng thơm
Sơn tăng giữ tịnh giới
Cùng ngồi không cùng ăn


Chưa đi xuất gia nhưng tự xem mình như một vị "sơn tăng" rồi, thì biết vua đã chuẩn bị kỹ lưỡng biết bao cho việc xuất gia của mình! Tháng Bảy năm 1299, vua xây một thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am. Xây dựng chỉ sơ sài thôi, bởi vì sang tháng Tám vua đã đi xuất gia...

Thứ Bảy, 15 tháng 1, 2011

Gương Sáng Muôn Đời: Gioan Người Làm Vườn (John the Gardener)

Gioan, người làm vườn, Tôi tớ Chúa (qua đời năm 1501) - please scroll down for English
Nguồn: VietCatholic News / Trâm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ AmericanCatholic.org)
Ngày 13 tháng 1, 2011

Gioan sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Bồ Đào Nha. Mồ côi sớm, ngài phải đi ăn xin một số năm. Sau khi có việc làm ở Tây Ban Nha là chăn chiên, ngài chia sẻ phần thu nhập ít ỏi của mình với những người nghèo khổ hơn mình.

Một hôm, hai tu sĩ dòng Phan sinh gặp Gioan trên đường đi. Khi nói chuyện, hai tu sĩ này thấy quý mến một con người đơn giản và mời Gioan đến làm việc tại tu viện của họ ở Salamanca. Gioan chấp nhận và được phân công làm vườn. Một thời gian sau, Gioan đã nhập dòng Phan sinh và sống cuộc đời chiêm niệm, ăn chay, dành thời gian ban đêm để cầu nguyện, và giúp đỡ người nghèo. Vì công việc của ngài là làm vườn và chăm sóc hoa để cắm trên bàn thờ, ngài nổi tiếng với danh xưng “người làm vườn”.

Thiên Chúa ban cho Gioan tài nói tiên tri và biết rõ tâm hồn người khác. Các nhân vật quan trọng, kể cả các hoàng tử, cũng đến với ngài để xin lời khuyên. Ngài là người khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời. Ngài yêu thương cả những người muốn chống đối ngài. Lời khuyên của ngài là tha thứ vì đó là hành động đẹp lòng Chúa nhất. 


Ngài đã tiên báo đúng ngày ngài qua đời: 11/1/1501.

http://www.vietcatholic.net/News/Html/86984.htm


Servant of God John the Gardener
(d. 1501)

John was born of poor parents in Portugal. Orphaned early in life, he spent some years begging from door to door. After finding work in Spain as a shepherd, he shared the little he earned with those even more needy than himself.

One day two Franciscans encountered him on a journey. Engaging him in conversation, they took a liking to the simple man and invited him to come and work at their friary in Salamanca. He readily accepted and was assigned to the task of assisting the brother with gardening duties. A short time later John himself entered the Franciscan Order and lived a life of prayer and meditation, fasting constantly, spending the nights in prayer, still helping the poor. Because of his work in the garden and the flowers he produced for the altar, he became known as "the gardener."

God favored John with the gift of prophecy and the ability to read hearts. Important persons, including princes, came to the humble, ever-obedient friar for advice. He was so loving towards all that he never wanted to take offense at anything. His advice was that to forgive offenses is an act of penance most pleasing to God.

He predicted the day of his own death: January 11, 1501.

http://www.americancatholic.org/Features/Saints/Saint.aspx?id=1260

Bài đăng phổ biến