Hiển thị các bài đăng có nhãn Rau Tươi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Rau Tươi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Rau Tươi: Ngò tây giúp lọc thận (Dược sĩ Phan Đức Bình)

Parsley is said to help detox the kidneys. Besides, it tastes sweetly refreshing as a tea. Enjoy.

Ngò tây giúp lọc thận
DS. Phan Đức Bình 

Năm này qua năm khác, quả thận của chúng ta phải lọc máu bằng cách loại bỏ muối, chất độc và bất kỳ những chất có hại nào vào trong cơ thể của chúng ta. Theo thời gian muối sẽ tích tụ ngày càng nhiều và phải được xử lý lọc bỏ. Chúng ta sẽ làm điều đó bằng cách dùng ngò tây (parsley = Petroselium crispum).

Chúng ta mua một bó ngò tây và rửa thật sạch rồi cắt ra thành những đoạn ngắn cho vào một cái ấm rồi chế nước sạch vào và đem nấu sôi trong thời gian 10 phút, sau đó để nguội và lọc lại, đổ vào một bình sạch và để vào trong tủ lạnh, uống mỗi ngày 1 ly. Hoặc dùng ngò tây như rau gia vị hàng ngày sẽ thấy muối và các chất độc sẽ bị thải ra khỏi thận qua đường tiểu. Các bạn cũng sẽ nhận thấy nhiều điều khác lạ mà các bạn chưa từng cảm nhận bao giờ.

Rau ngò tây được biết đến như là một liệu pháp lọc thận tuyệt diệu và lại thiên nhiên nữa.

http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/9802/ngo-tay-giup-loc-than.html

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2011

Rau Tươi: Bí mật về cây nha đam (lô hội) - Aloe vera (Khổng Thu Hà)

Aloe vera has been known to be useful in salving burns, smoothing out wrinkles, and helping with weight reduction, among other benefits.

Bí mật về cây nha đam (lô hội)
Khổng Thu Hà (Theo MC)

Nha đam (lô hội) được xem như một loại thần dược với những công dụng và hữu ích tuyệt vời. Nha đam không chỉ có tác dụng làm đẹp mà còn được sử dụng vào mục đích trị bệnh.

Làm dịu mát


Đầu tiên, không thể không kể đến tính chất dịu mát và thanh nhiệt của cây nha đam. Chính nhờ đặc tính này, mà nhiều quý ông đã dùng nó như một loại gel và kem để làm giảm cảm giác đau rát sau mỗi lần cạo râu.

Tái tạo da

Thay bằng việc sử dụng những loại mỹ phẩm đắt tiền, muốn “sở hữu” một làn da mềm mịn và trắng hồng tự nhiên, bạn hãy dùng lô hội như một loại thần dược dành cho phái đẹp.

Bôi lô hội lên mặt và rửa sạch sau vài phút, làm đều đặn mỗi ngày và cảm nhận sự khác biệt. Bên cạnh đó, việc uống nước ép lô hội cũng đem lại hiệu quả như mong muốn. Và cũng xin nói thêm rằng, lô hội là loại “mỹ phẩm thảo dược” không gây kích ứng da.

Tạm biệt nếp nhăn

Nha đam chính là phương thuốc đặc trị nếp nhăn. Lấy lô hội bôi lên mặt, nhựa lô hội sẽ nhanh chóng thẩm thấu và thấm sâu vào tận các “ngõ ngách” trong da. Làm tăng độ ẩm, tạo độ căng cho da, mang đi những tế bào chết và tái tạo tế bào mới.


Đối với đôi môi nứt nẻ

Mùa hanh khô đang đến gần, đôi môi gợi cảm của bạn đang phải “đương đầu” với những mối nguy do tiết trời hanh khô gây ra. Bạn đừng quá lo lắng và bối rối, hãy dùng nhựa lô hội bôi lên môi để “tìm lại” bờ môi mọng đỏ như trái dâu tây.

Trị mụn

Lô hội có khả năng tiêu diệt mụn và các tế bào chết, thu hẹp các lỗ chân lông và cho bạn một làn da săn chắc. Hãy dùng lô hội bôi ngay vào nốt mụn khi phát hiện ra nó, để ức chế quá trình phát triển.

Đối với ánh nắng mặt trời

Các minh chứng khoa học đã cho thấy rằng, nha đam có khả năng “bảo vệ” bạn, đặc biệt làn da nhạy cảm của bạn dưới tác động của các tia cực tím dưới ánh nắng mặt trời UVA và UVB (UVA và UVB là các tia cực tím cực kỳ độc hại, tiếp xúc nhiều có thể gây ung thư da).


Khắc phục chứng khô mắt

Có tác dụng ngăn ngừa chứng khô mắt, do tiếp xúc nhiều giờ với ánh nắng mặt trời và tiếp xúc với máy tính cường độ lớn. Đơn giản, hãy lấy phần cùi của cây lô hội đắp lên mắt trong vòng vài phút.

“Trị” chứng “nguyệt san” bất thường

“Nguyệt san” là chứng bệnh thường gặp và gây ra nhiều rắc rối đối với phụ nữ. Để khắc phục không khó, bạn hãy nấu sôi nước lô hội và thêm một chút đường để tạo thành nước siro. Uống nước này khoảng một tuần trước khi kỳ “nguyệt san” để cải thiện tình hình.

Vết thâm tím, trầy xước

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong lô hội có chứa chất khử trùng. Vì thế, lô hội đem lại hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa các nhiễm trùng do các vết thương hở gây nên.

Đối với các vết bỏng

Đối với các vết bỏng nhẹ ở cấp 1, 2. Hãy nhanh chóng lấy nhựa cây lô hội và thoa vào vết bỏng để tránh sưng phồng và tấy đỏ.

Chống béo phì

Ngoài những công dụng nêu trên, nha đam còn có tác dụng đặc biệt trong việc giảm cân. Các nhà khoa học đã chỉ rằng, trong lô hội có chứa chất aloin, rất hiệu nghiệm trong việc giảm cân.

Chính vì thế, nếu muốn “chiến dịch”giảm cân đạt hiệu quả cao bạn đừng quên bổ sung nước ép lô hội vào thực đơn của mình.


http://nhakhoathammy.vn/cay-thuoc/bi-mat-ve-cay-nha-dam-lo-hoi.html

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

Rau Tươi: Các loại rau húng trị bệnh - Herbs that heal (BS Thành Đức)

Some herbs such as purple basil and peppermint have been used to relieve a variety of ailments.
 
Các loại rau húng trị đau dạ dày, viêm phổi
BS Thành Đức

TPO - Cây húng láng còn gọi là cây húng quế, cây húng láng giổi. Kinh nghiệm dân gian và Đông y còn dùng húng láng để trị một số bệnh, húng láng có vị cay, tính ấm, vào phế âm có tác dụng giảm cảm, tan huyết tụ và thoát mồ hôi.

Cây húng láng

Trị cảm cúm, đầy bụng: Lấy 15g húng láng tươi rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt, hòa cùng một ít nước nóng, uống trong ngày.

Trị chứng đau mắt: Lấy một nắm lá húng láng rửa thật sạch, giã nát cùng vài hạt muối rồi đắp lên mắt.

Trị chứng ăn không tiêu, bụng ậm ạch, đau vùng dạ dày: Lấy 15 - 20g lá húng láng tươi rửa sạch sắc với 3 bát nước (bát ăn cơm) còn 1 bát chia làm 2, uống hết trong ngày thì khỏi. Phương thuốc này còn chữa được cả chứng bí tiểu tiện rất hiệu nghiệm.

Trị chứng đau răng: Khi bị sâu răng gây đau nhức lấy lá húng giổi tươi sắc thật đặc để súc miệng và ngậm thường xuyên rất tốt.

Trị chứng chảy máu do ngã, do bị đánh chấn thương chảy máu, đau nhức: Lấy lá húng láng tươi rửa thật sạch, giã nát đắp lên vết thương rất chóng khỏi. Phương thuốc này có thể áp dụng để chữa trị khi bị rắn cắn, trước khi đưa nạn nhân đến bệnh viện để cứu chữa cũng rất tốt.

Cây húng chanh

Cây húng chanh còn có tên gọi khác là cây rau tần. Theo Đông y, húng chanh có vị chua the, thơm hăng, tính ấm, không độc, đi vào phế, có công dụng giải cảm, trục hàn, tiêu đờm, sát khuẩn, tiêu độc…

Trị chứng lạnh phổi phát ho: Lấy 20 - 30g lá húng chanh tươi rửa sạch sắc với 600ml nước, còn 150ml thì chia làm 3, uống trong ngày. Khi uống đun lên cho ấm rất hiệu nghiệm.

Trị chứng ho suyễn: Lấy 12g húng chanh tươi, 10g lá tía tô tươi, rửa sạch 2 thứ rồi sắc 3 bát nước. Khi sắc cho thêm vài lát gừng. Còn 1 bát nước thì chia làm 3 lần. Uống trong ngày. Trong thời gian uống thuốc nên kiêng ăn các chất tanh, lạnh, mỡ…

Trị chứng cảm, cúm: Lấy 1 nắm lá húng chanh, 1 nắm lá húng cay, đổ nước vào nồi bỏ húng chanh, húng cay vào đun thật sôi để xông và lấy 15g lá húng chanh đã phơi khô tự nhiên sắc với 3 bát nước (bát ăn cơm) và vài lát gừng tươi. Còn 1 bát chia làm 3 uống trong ngày.

Trị chứng sưng đau do bị côn trùng cắn, đốt: Lấy lá húng chanh rửa sạch, nhai kỹ hoặc giã nát đắp lên vết cắn, đốt của côn trùng rất hiệu nghiệm.

Cây húng cay
 
Cây húng cay còn có tên là cây bạc hà. Theo Đông y, húng cay có vị cay, tính mát, không độc có tác dụng thanh nhiệt, hóa đờm, tiêu thức ăn, giải cảm nắng, đau bụng, đầy bụng, tiêu viêm…

Trị chứng viêm họng, khản tiếng: Lấy một nắm húng cay tươi rửa sạch, giã nát cùng vài hạt muối, cho thêm một ít nước sôi để nguội, hòa đều, vắt lấy nước. Ngậm nước thuốc trên trong miệng khoảng 10 15 phút rồi nuốt dần sẽ cho kết quả tốt.

Trị chứng tưa lưỡi ở trẻ sơ sinh: Lấy một lá húng cay tươi rửa sạch với nước sôi để nguội rồi bọc vào ngón tay chà nhẹ lên lớp tưa lưỡi của trẻ, làm vài lần sẽ khỏi.

Nếu bị rết hoặc ong đốt thì lấy lá húng cay tươi rửa sạch, nhai nhuyễn đắp vào chỗ bị cắn.

Trị chứng đi lỵ ra máu: Lấy một nắm lá rau húng cay tươi, rửa sạch sắc với 2 bát nước cong gần 1 bát, chia uống 2 3 lần trong ngày

Trị chứng ho vướng đờm trong cổ: Lấy 200g húng cay khô, tán thành bột, luyện với mật nứa thành viên như hạt nhãn. Ngậm hết 15 - 20 viên là khỏi

Trị chứng cảm nắng, nhức đầu: Lấy khoảng 15 20g húng cay tươi làm nước xông. Trước khi xông chắt một chén nhỏ uống. Xông xong lau mồ hôi, nghỉ ngơi sẽ khỏi.

Trị chứng mày đay, dị ứng sơn ta: Nếu bị mày đay mẩn ngứa thì lấy lá húng cay tươi rửa sạch bằng nước muối, vò nát xát lên chỗ mày đay sẽ khỏi. Nếu bị dị ứng sơn ta ngứa ngáy, lở loét thì lấy lá húng cay đã phơi khô hoặc sao khô nấu với nước để rửa vết lở rất mau lành.


http://www.tienphong.vn/Suc-Khoe/539147/Cac-loai-rau-hung-tri-dau-da-day-viem-phoi.html

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Rau Tươi: Giá đỗ - Vị thuốc tuyệt hảo (Quốc Trung)

Sweet, crunchy, and fresh - bean sprouts have been known to be a super food for their nutritional value and health-boosting power. Enjoy this Nature's gift as part of your vegan meals. It's sprout time for chow time!

Giá đỗ - Vị thuốc tuyệt hảo
Quốc Trung / Báo Nông nghiệp Việt Nam
Ngày 10/05/2011

Giá đỗ thuộc nhóm rau mầm làm từ các loại đỗ: Đỗ xanh, đỗ đỏ, đỗ tương, đỗ đen, lạc (đậu phộng). Giá của loại đỗ nào sẽ mang phần bản chất của loại đỗ sinh ra nó. Nói chung giá đỗ bổ hơn hạt đỗ về cả chất lượng và đó là một trong những điều kỳ diệu của giá. Qua quy trình ngâm ủ, giá sẽ có hàm lượng protein, axit amin và vitamin C cao hơn.

Giá đậu xanh: Là loại giá đỗ được dùng nhiều nhất trong ẩm thực và làm thuốc. Theo cổ văn thì giá đỗ xanh dùng an toàn hơn cả vì dễ tiêu và chữa được nhiều bệnh hơn, đặc biệt là tính chất giải độc đa năng nội ngoại sinh có nguồn gốc khác nhau, kể cả thạch tím là một khoáng vật rất độc.

Giá đỗ xanh có đủ các chất dinh dưỡng, nhiều vitamin C và E, lượng calo thấp. Giá thường được dùng cho người bị viêm thanh quản mất tiếng, vận động thể thao bị mỏi cơ, người béo phì, đái tháo đường, bệnh tim mạch, cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, cholesterol máu cao, hiếm muộn, dễ sảy thai. Do có nhiều vitamin A, C, E nên giá đỗ xanh còn khử gốc tự do, chống lão hóa, chống ung thư (đặc biệt là ung thư vú, ung thư trực tràng), thoái hóa khớp, một số bệnh nan y như Parkinson, Alzheimer (sa sút trí tuệ người cao tuổi).

Các công dụng của giá đỗ:

* Dễ tiêu: Giá đỗ có đủ chất dinh dưỡng, nhiều vitamin, giàu protein (ngang với sữa) nhưng lượng calo lại rất thấp. Từ đỗ thành giá là quá trình tinh bột đã được kích hoạt thành loại đường đơn giản, dễ tiêu hóa. Chất béo trong giá đỗ nhiều nhưng không gây đầy bụng nên đặc biệt thích hợp với những người làm việc trí óc nhiều. Loại chất béo thực vật này còn công hiệu điều trị chứng thừa cholesterol máu luôn được khuyên dùng cho những người mắc bệnh tim mạch hay đang cần chế độ ăn kiêng giảm béo.

* Giải độc: Thành phần vitamin phong phú với hàm lượng cao nên giá đỗ có thể khử gốc tự do, giải độc đa năng nội ngoại sinh với nhiều nguồn gốc khác nhau.

* Tăng cường hormon nữ: Mật độ tế bào tăng trưởng và các nguyên tố vi lượng có trong giá đỗ, đặc biệt là kẽm, omega 3, các chất chống oxy hóa chính là những tố chất cần thiết cho phụ nữ. Làm đẹp, sáng da, ngăn ngừa lão hóa, hạn chế nhăn và thâm. Giá đỗ giúp vượt qua giai đoạn khó khăn của thời tiền mãn kinh vì trong giá có chứa nhiều phytoestogen.

* Chữa nhiều bệnh: Giá đỗ có công năng thanh nhiệt giải độc, hạ hỏa, chỉ khát, thông tiểu, tiểu thực, trị bụng đầy tức, đi tiểu phân sống. Nó lại sinh tân dịch nên dùng tốt sau lao động ngoài nắng nóng. Giá đỗ có khả năng giải độc nói chung và một số kim loại độc, giải độc.

Đỗ sau khi ngâm thành giá thì giá trị dinh dưỡng tăng cao. Vitamin B2 tăng 2 – 4 lần, caroten tăng 2 lần, vitamin C tăng 40 lần, vitamin B12 tăng 10 lần, nhóm B tăng 30 lần. Do đó, nó có khả năng khử gốc tự do, chống oxy hóa, phòng chống viêm, ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Vitamin E giúp thụ thai, chữa hiếm con, hạn chế phát triển bệnh Parkinson, chống xơ vữa mạch máu, yếu sinh lý.

Ăn giá đỗ là giảm béo, chữa các bệnh tim mạch, huyết áp cao, cholesterol máu cao, ung thư, thoái hóa khớp, Parkinson, Alzheimer.


http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/5/90/90/77965/Default.aspx

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Rau Tươi: 10 sự thật về lợi ích của rau quả

Fruits and vegetables can help in the prevention of heart diseases, obesity, diabetes, and cancer. Besides, they taste and smell great au naturel.

10 sự thật về lợi ích của rau quả
Hoàng Thanh (Theo Tiptoptens)
Ngày 27.4.2011

Người dân nhiều nước trên thế giới, trong đó có Mỹ thường ít ăn rau và hoa quả. Họ không biết rằng chính rau quả có tác dụng bảo vệ cơ thể và ngăn chặn các bệnh như tim mạch, béo phì, tiểu đường.

Các món ăn liên quan đến thịt như ức gà, thịt nướng, hamburger, mì ống hay pizza gần như là sở thích của đa số mọi người. Chúng ta không nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của các loại rau đối với sức khỏe con người. Dưới đây là 10 lợi ích của rau quả bạn nên tham khảo để bổ sung vào bữa ăn hàng ngày:

Rau quả giúp bạn giảm cân vì chúng có nhiều chất xơ, ít calo và giàu carbohydrate.

Một số loại rau như đậu bắp thường được nghĩ rằng đó là một loại rau xanh nhưng thực tế đó là một loại trái cây.

Các loại rau rất giàu chất khoáng và cơ thể của chúng ta cũng cần nhiều khoáng chất như iot, magiê, natri, kali, canxi, florua.

Rau có tác dụng cải thiện mái tóc, móng tay chân và làn da bạn vì chúng rất giàu lưu huỳnh.

Trong rau chứa nhiều vitamin, chất dinh dưỡng và khoáng chất cần thiết cho cơ thể.


Ngoài ra, rau còn giúp ngăn chặn các bệnh như ung thư. Bông cải xanh, cải bắp và các loại rau lá xanh thực sự rất tốt đối với sức khỏe con người.

Rau chứa nhiều chất xơ nên chúng có tác dụng như một chiếc chổi quét sạch những chất dư thừa, bao gồm cả những chất gây ung thư quyện trong bã thức ăn ra khỏi cơ thể. Đối với người già, chất xơ trong rau quả có thể quét sạch chất cholesterol thừa giúp cơ thể phòng bệnh xơ vữa động mạch.

Cà rốt giúp chúng ta nhìn được trong ánh sáng yếu, chúng có chứa Vitamin A, góp phần ngăn chặn bệnh quáng gà.


Dưa hấu về cơ bản cũng là một loại rau, bởi chúng cùng họ với dưa chuột, bí ngô và bí xanh.

Rau đông lạnh có nhiều chất dinh dưỡng hơn rau tươi. Sau khi được thu hái và đóng gói tại cùng một thời điểm, rau tươi phân phối và bán ra các chợ, siêu thị trong một vài ngày nên mất rất nhiều chất dinh dưỡng. Trái lại, rau đông lạnh sẽ bị mất chất dinh dưỡng ít hơn do được bảo quản ngay sau khi vừa thu hoạch.


http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/10-su-that-ve-loi-ich-cua-rau-qua/41001

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2011

Rau Tươi: Rau mồng tơi - Malabar spinach (BS. Phó Thuần Phương)

The Malabar spinach is popular in Việt Nam and mostly used for soups. You might know it by other names, including Ceylon spinach; Vietnamese spinach (mồng tơi); saan choy, shan tsoi, luo kai, shu chieh, lo kwai (Chinese); tsuru murasa kai (Japanese); paag-prung (Thai); genjerot, jingga, gendola (Indonesian); and so on. It is high fiber and tastes pleasant.

Rau mồng tơi
BS. Phó Thuần Phương
Trích đoạn:

Rau mồng tơi đã quá quen thuộc với chúng ta. Đối với người dân vùng nhiệt đới, mùa hè nóng khát phải có các món canh rau như mồng tơi. Nói đến mồng tơi người ta nghĩ ngay đến tác dụng nhuận tràng "trơn ruột" của nó để chữa táo bón. Tuy nhiên còn nhiều công dụng chữa bệnh nữa của rau mồng tơi mà bạn đọc có thể chưa biết.

Rau mồng tơi còn có các tên mùng tơi, tầm tơi (Tuệ Tĩnh), tên Hán là lạc quỳ, đằng quỳ, đằng nhi thái, chung quỳ, yên chi thái, đằng thái. Tên khoa học Basella rubra Linn, họ mồng tơi. Mồng tơi tính hàn, vị chua, vào 5 kinh tâm, can, tỳ, đại tràng, tiểu tràng. Có tác dụng thanh nhiệt lương huyết, chỉ huyết, chỉ lỵ, chữa ban chẩn, định sang tán nhiệt, lợi tiểu, giải độc, làm nhuận da, hoạt trường, không độc. Theo Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh còn có tác dụng hoạt thai làm dễ đẻ.


Trong mồng tơi chứa chất nhày pectin rất quý để phòng chữa nhiều bệnh làm cho rau mồng tơi có tác dụng nhuận tràng, thải chất béo chống béo phì, thích hợp cho người có mỡ và đường cao trong máu. Tác dụng trừ thấp nhiệt, giúp cho người lao động ngoài trời nắng nóng duy trì được sức khỏe phòng chống bệnh tật như mỏi mệt háo khát, bứt rứt.

Sau đây là một số cách dùng rau mồng tơi:

- Thanh nhiệt giải độc: Có nhiều cách từ đơn giản đến phức tạp. Ta đã có những cách thông dụng như canh rau mồng tơi, hoặc kèm rau đay, mướp... ăn với cà pháo muối giòn thì ngon tuyệt, lại mát ruột, ăn được nhiều cơm khi trời nóng bức.

- Hoạt trường, thanh nhiệt, dưỡng âm, giúp da tươi nhuận: Rau mồng tơi luộc chấm hoặc trộn vừng đen đã rang tán bột.

- Chữa đầy bụng: Rau mồng tơi 50g, rau đay 50g, khoai sọ 1 củ (bóc bỏ thái nhỏ) nấu canh ăn vài ngày. Hoặc dùng 4 loại rau: mồng tơi, đay, rau khoai, rau má với lượng bằng nhau nấu canh ăn.

- Chữa táo bón lâu ngày gây thoát giang: Lá mồng tơi, lá vông non mỗi thứ 30g, rễ đinh lăng 20g, củ mài 12g (thái mỏng sao vàng), vừng đen 30g (rang nổ) sắc với 600ml nước còn 300ml. Người lớn chia 2 lần, trẻ em tùy tuổi dùng ít hơn.

- Chữa tiểu tiện buốt nóng: Lá mồng tơi 1 nắm, giã nhuyễn, lấy nước cốt pha thêm nước, chắt lấy nước, uống nóng với ít hạt muối. Bã đắp vùng bàng quang hoặc nấu lấy nước uống hằng ngày.

- Chữa đầu vú sưng, nứt, trĩ, mụn nhọt, bỏng: Lá mồng tơi rửa sạch giã nhuyễn với ít muối đắp lên chỗ tổn thương. Da mặt khô nhăn nẻ, tay chân bị cước cũng có thể dùng lá mồng tơi như vậy. Chú ý rau mồng tơi phải rửa sạch.

- Bị thương chảy máu: Rau mồng tơi trộn đường phèn, giã đắp.

- Chảy máu mũi (do huyết nhiệt): Lá mồng tơi tươi sạch giã nát lấy nước tẩm bông nhét vào mũi.

- Nhức đầu do đi nắng: Lá mồng tơi giã nhuyễn lấy nước uống, bã đắp vào 2 bên thái dương băng lại.

- Lợi sữa: Phụ nữ sau sinh nấu canh mồng tơi ăn sẽ có nhiều sữa, chống táo bón.

Chú ý: Rau mồng tơi tính mát lạnh nên dùng cẩn thận với người hay bị lạnh bụng đi ngoài. Để bớt lạnh nên nấu kỹ...


http://suckhoedoisong.vn/200872692736545p0c60/chua-di-mong-tinh-bang-rau-mong-toi-.htm

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Rau Tươi: Rau càng cua- Món rau ngon, vị thuốc quý (Lương y Minh Phúc)

Rau càng cua (Peperomia pellucida) is literally translated as crab claw herb in Vietnamese. It is called by various names: pepper elder, silverbush, clearweed (North America); coraçãozinho or "little heart" (Brazil); lingua de sapo, herva-de-vidro, herva-de-jaboti or herva-de-jabuti (South America); pansit-pansitan or ulasimang-bato (Tagalog); pak krasang (Thailand); suna kosho (Japan); rangu-rangu, ketumpangan or tumpang angin (Bahasa/Malay).

Traditional medicine doctor Minh Phúc says it has lots of vitamin C and iron, low in calorie, high in fiber, and can be used as a diuretic or dressing for boils, among other applications. Overall, this herb, which has a mustard-like taste, is good to enjoy.

Trích: Rau càng cua- Món rau ngon, vị thuốc quý
Lương y MINH PHÚC

Rau càng cua là loại rau hoang dại, mọc nhiều nơi, ăn sống hơi chua giòn ngon, rất có giá trị về dinh dưỡng. Theo Đông y, rau có tác dụng bổ âm, dưỡng huyết, thanh nhiệt, giải độc, thông ứ, chỉ thống, lợi tiểu tiện.

Đặc điểm của rau càng cua

Càng cua tên khoa học Peperomia peliucida, ưa mọc nơi đất ẩm, mương rạch, vách tường khắp nơi ở nước ta, cao khoảng 20 - 40cm. Càng cua thường được người dân hái làm rau tươi bóp giấm... ăn ngon lạ miệng, bổ mát… Trong 100g rau càng cua chứa 92% nước, phosphor 34mg, kali 277mg, canxi 224mg, magiê 62mg, sắt 3,2mg carotenoid 4.166 UI, vitamin C 5,2mg, cung cấp cho cơ thể 24 calori.

Rau càng cua chứa nhiều chất vitamin C, carotenoid, là chất có vai trò tăng khả năng miễn dịch, phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch, bệnh về mắt, tăng cường sức mạnh cơ bắp, mau lành vết thương, giải nhiệt độc cơ thể… Đây là rau chứa nhiều chất phosphor, canxi là chất có vai trò quan trọng giúp trẻ em phát triển bộ xương, ngăn ngừa còi xương và chữa loãng xương người lớn.

Rau chứa nhiều chất sắt, ăn rất tốt cho người thiếu máu do thiếu sắt. Rau còn chứa nhiều kali là chất rất cần cho sự hoạt động bình thường của cơ tim, sử dụng rất tốt cho bệnh tim mạch và huyết áp. Ngoài ra, càng cua giàu chất magiê cũng là chất có vai trò chữa bệnh đái tháo đường, táo bón, cao huyết áp, và loãng xương. Càng cua là loại rau ít năng lượng, rất thích hợp cho người thừa cân nóng nhiệt.


Theo Đông y, rau càng cua có tác dụng bổ âm huyết, thanh nhiệt, giải độc, thông ứ, chỉ thống, lợi tiểu tiện, là món ăn bài thuốc rất thích hợp chữa trị chứng phế nhiệt miệng khô khát, chứng huyết nhiệt sinh mụn nhọt lở ngứa, chứng vị nhiệt sinh táo bón, chứng thận hư âm hư, bàng quang nhiệt tiểu buốt gắt, và chữa chứng đau mỏi cơ khớp do phong nhiệt.

Một số món ăn bài thuốc dùng rau càng cua:

- Chữa phế nhiệt, viêm họng khô cổ khan tiếng: rau càng cua rửa sạch nhai ngậm, hoặc xay nước uống ngày 50 - 100g.

- Chữa tiểu gắt, tiểu khó: rau càng cua ăn sống hoặc nấu nước uống ngày 150 - 200g.

- Chữa đau lưng cơ co rút (nhiệt độc nhập kinh thận): rau càng cua sắc uống mỗi ngày 50 - 100g.

- Chữa nhiễm trùng đầu ngón tay (chín mé): rau càng cua 100 - 150g sắc uống trong, bã đắp ngoài.

- Chữa ngoài da khô sần, mụn nhọt lở ngứa, vết thương lâu lành: rau càng cua ăn sống, hoặc xay nước uống, giã đắp ngoài.

Có người còn cho rằng, ăn rau càng cua làm người mát, bớt táo bón, đi tiêu dễ dàng, người khỏe, tim bớt hồi hộp, có thể vì rau này có tính nhuận tràng và giàu vitamin C, kali.

Rau càng cua là rau ngon giòn, bổ mát, lạ miệng, là nguồn bổ sung nhiều vitamin vi lượng cần thiết cho cơ thể. Tuy nhiên, rau có tính hàn, người tỳ vị hư hàn đang tiêu chảy không nên dùng.

http://suckhoedoisong.vn/20110406114058267p0c60/rau-cang-cua-mon-rau-ngon-vi-thuoc-quy.htm

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Rau Tươi: Tía tô - Thuốc quý dân gian (Perilla or Purple Mint)

Perilla (sometimes called purple mint or Japanese basil) is an herb that can be used for cooking and natural Eastern medicine.There are two kinds: purple and green. It is quite flavorful for vegan dishes, and healthy too.

Tía tô - Thuốc quý dân gian
Nguồn: Dược sĩ Bảo Hoa / Sức Khỏe & Đời Sống

Tía tô vừa là rau gia vị, vừa là cây thuốc phổ biến trong nhân dân. Có 2 loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm mạnh. Loại tía tô mép lá quăn có giá trị sử dụng cao hơn. Tránh nhầm với cây cọc giậu (dã tô, cây nhâm) có bề ngoài giống hệt loại tía tô mép lá phẳng, nhưng không có mùi thơm của tía tô.

LÁ: Tên thuốc trong y học cổ truyền là tô diệp. Hái lá già cả cuống làm 2 lần cách nhau một tháng, đem phơi trong mát hoặc sấy nhẹ cho khô để giữ nguyên màu sắc và hương vị. Dược liệu có vị cay, mùi thơm, tính ấm, không độc, có tác dụng phát tán, phong hàn, hành khí, hóa trung, được dùng trong những trường hợp sau:

Chữa cảm sốt, trong người khó chịu, mệt mỏi: Lá tía tô, kinh giới, cam thảo đất, cúc tần hay sài hồ nam, mỗi thứ 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày. Đồng thời, dùng dạng món ăn, bài thuốc dân gian thay cho bữa ăn trong ngày là ăn cháo giải cảm gồm tía tô và củ hành.

Chữa ho do cảm lạnh: Lá tía tô, lá xương sông, lá hẹ, mỗi thứ 12g; kinh giới, gừng mỗi thứ 8g. Sắc uống lúc nóng.

Chữa sốt, sổ mũi, chân tay nhức mỏi: Tía tô, kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, cát căn mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền mỗi thứ 5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 - 6g.

Chữa cảm cúm, nhức đầu, nôn nao: Viên cảm “hương tô” chứa 0,263g, lá tía tô 0,187g hương phụ, 0,15g bạch chỉ, 0,075 trần bì, 0,075g cam thảo. Người lớn, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 3 viên (thuốc có bán ở các hiệu thuốc).

Chữa đau bụng, kiết lỵ, tiêu chảy: Tía tô 20g, rau sam 20g, cỏ sữa 16g, cam thảo đất, cỏ mần trầu, kinh giới mỗi thứ 12g. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 12g dưới dạng thuốc bột hoặc thuốc hoàn. Nếu bệnh cấp, có thể sắc uống.

Dùng ngoài, lá tía tô phối hợp với lá thanh yên, lá chanh, lá ráy, lá lốt, mỗi thứ 50g, giã nhỏ, gói vào một miếng lá chuối tươi, dùi nhiều lỗ thủng, hơi nóng, đắp lên vết thương sau khi đã rửa sạch và sắc bột màng lụa bên trong vỏ quả chanh để chữa mụn nhọt độc vỡ mủ lâu ngày, không liền miệng. Ngày làm một lần trong nhiều ngày. 


CÀNH: Tên thuốc là tô ngạnh. Nhổ cả cây sau khi đã hái lá lần thứ hai, bỏ rễ để riêng, cắt thành từng đoạn dài 5 – 10cm, phơi hoặc sấy khô (chỉ lấy thân chính, không lấy những cành nhỏ).

Chữa suy nhược thần kinh: Cành tía tô 8g, câu đằng, thảo quyết minh, cam thảo dây, mỗi vị 12g; cúc hoa, hương phụ, chỉ xác, uất kim, mỗi vị 8g. Sắc uống.

QUẢ: Tên thuốc là tô tử. Hái quả ở những cây định lấy quả, không hái lá hoặc chỉ hái ít lá ở lần thứ nhất. Phơi hoặc sấy khô.

Dùng riêng, quả tía tô với liều 6 – 12g sắc uống chữa ho, nôn mửa, đau bụng, khó tiêu. Dùng phối hợp với những vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa ho có đờm, ho hen lâu ngày ở người cao tuổi: Quả tía tô và hạt cải bẹ, mỗi thứ 10g, tán bột, uống hằng ngày với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng.

Chữa ho suyễn, ngực đầy tức, thở đứt quãng: Quả tía tô, bán hạ chế, mỗi vị 10g; đương quy 8g; cam thảo, nhục quế mỗi vị 6g; tiền hồ, hậu phác, tô diệp mỗi vị 4g; gừng tươi 2 lát; đại táo 1 quả. Sắc uống ngày một thang.

Hoặc quả tía tô 10g; bạch giới tử, lai phục tử mỗi vị 8g. Giã nhỏ, hấp với đường phèn vừa đủ ngọt. Uống lúc nóng.

RỄ: Tên thuốc là tô căn. Thái nhỏ, phơi hoặc sấy khô, dùng trong, rễ tía tô với rễ cây gai, rễ đu đủ và rễ cỏ lào mỗi thứ 20 - 30g. Sắc uống chữa kiết lỵ, tiêu chảy.

Dùng ngoài, rễ tía tô, lá thanh yên, nõn khoai môn, lá lốt, giã nhỏ, gói vào vải xô, hơ nóng, đắp chữa vết thương tụ máu, sưng tấy và đau nhức. Ngày làm 2 – 3 lần.


http://suckhoedoisong.vn/2008111316646178p0c60/tia-tothuoc-quy-dan-gian.htm

Thứ Ba, 15 tháng 2, 2011

Rau Tươi: Những điều cần biết về nấm ăn - Mushrooms

Mushrooms are rich in protein and contain vitamin B12. Dr. Đào Thị Yến Thủy recommends that vegetarians consume mushrooms - the familiar kinds.

BS Đào Thị Yến Thủy (Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM)
Ngày 14 tháng 2, 2011

PN - Sau những ngày Tết, các món ăn làm từ thịt trở nên “bão hòa”, nhiều bà nội trợ chuyển hướng sang mua các loại rau củ. Trong đó, nấm là thực phẩm được ưu tiên lựa chọn. Nấm có thể dùng làm món mặn, xào, thậm chí dùng để nấu canh tương tự thịt cá. Nấm cũng là một thực phẩm cung cấp chất đạm tốt không kém đạm động vật.

Có nhiều loại nấm khác nhau được sử dụng với nhiều mục đích như làm thức ăn tươi, làm thuốc, công nghiệp thực phẩm, làm tế bào mầm…

Nấm ăn được xếp vào nhóm chất đạm vì rất giàu đạm và là loại đạm thực vật với nhiều acid amin thiết yếu. Lượng tinh bột trong nấm không cao nên không làm tăng năng lượng khẩu phần, chậm làm tăng đường huyết, vì vậy rất tốt cho người bệnh tiểu đường. Nấm chứa các vitamin nhóm B như B1, B2, B3, B7, B12, vitamin C, vitamin D, E, K và beta caroten. Nấm là loại thực phẩm thực vật duy nhất chứa vitamin B12.

Chỉ cần 3g nấm là cung cấp đủ nhu cầu B12 khuyến cáo hàng ngày. Những người ăn chay trường nên sử dụng thường xuyên thực phẩm này. 100g nấm tươi cung cấp hơn 1/4 nhu cầu vitamin B3 hàng ngày ở người trưởng thành. Đặc biệt nấm chứa rất nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu như sắt, phosphorus, magnesium, potassium (kali), selenium mà các thức ăn chế biến công nghiệp thường thiếu. Hơn nữa, nấm chứa ít chất béo lại không có cholesterol, lượng natri thấp, nhiều chất xơ, rất có lợi cho sức khỏe.

Tuy nhiên cần lưu ý, một số loại nấm có độc tố rất mạnh có thể gây rối loạn chức năng cơ thể nặng nề và tử vong nhanh chóng. Vì vậy, chỉ nên mua dùng những loại nấm quen thuộc như nấm mèo (mộc nhĩ), nấm rơm, nấm đông cô, nấm bào ngư, nấm kim châm, nấm tuyết, nấm linh chi, nấm mỡ… Các loại nấm độc thường có màu sắc sặc sỡ, hoặc có hình dáng lạ… không nên sử dụng.


http://www.phunuonline.com.vn/suckhoe-dinhduong/2011/Pages/nhung-dieu-can-biet-ve-nam-an.aspx

Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Rau Tươi: Rau muống - vừa là rau, vừa là thuốc (Water spinach)

Water spinach or water morning glory is a kind of greens that is very popular in Vietnamese dishes. It has a lot of fiber and is quite tasty.

Rau muống - vừa là rau, vừa là thuốc

Nguồn: QĐND Điện tử / Nguyễn Thu Hương (Theo Cây cỏ chữa bệnh)

Rau muống là loại thực phẩm gắn liền với cuộc sống của mỗi gia đình người Việt. Rau muống có tên khoa học là Ipomoea aquatica Forsk, thuộc họ khoai lang, có tài liệu gọi là họ bìm bìm (Convolvulaceae).

Theo kết quả phân tích của y học hiện đại, trong 100g rau muống có: 78,2g nước, 85mg can-xi, 31,5mg phốt-pho, 20g vi-ta-min C và một hàm lượng nhỏ prô-tê-in, sắt, vi-ta-min B2, ca-rô-ten, a-xít ni-cô-tíc, đặc biệt trong giống rau muống đỏ chứa một chất giống như insulin nên đối với người mắc bệnh đái tháo đường ăn thường xuyên rau muống đỏ là rất tốt.

Còn theo đông y, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (khi nấu chín thì lạnh giảm) đi vào các kinh tâm, can, tiểu trường, đại trường. Có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, lợi thủy, giải độc khi cơ thể bị xâm nhập các chất độc của nấm độc, cá, thịt độc, khuẩn độc, hoặc độc chất do côn trùng, rắn, rết cắn... Trang “Sức khỏe và đời sống” Báo Quân đội Nhân dân, xin giới thiệu một số bài thuốc từ rau muống mà dân gian vẫn thường dùng.

Trị trẻ nóng nhiệt ra mồ hôi mùa hè: Rau muống 100g, mã thầy 500g, sắc lấy nước cho trẻ uống thay nước trong ngày. Thanh nhiệt lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, cúc hoa 12g, đun sôi 20 phút lọc lấy nước (có thể cho chút đường hòa vào cùng uống trong ngày).

Chữa kiết lỵ: Lấy 400g cọng rau muống tươi, vỏ quýt khô lâu năm một ít, nấu nhỏ lửa trong nhiều giờ, lấy nước uống trong ngày.

Trị tiểu đường: Rau muống đỏ 60g, râu ngô 30g, sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống một thời gian dài.

Trị bệnh trĩ: Lấy 100g rau muống nấu nhừ gạn lấy nước, cho 120g đường trắng, nấu lên thấy sánh như kẹo mạch nha lấy uống, ngày hai lần, mỗi lần 100g…

Gần đây, y học hiện đại còn chứng minh, rau muống cung cấp nhiều chất xơ, vi-ta-min C, A..., những người cao tuổi ăn rau muống ngày hai bữa có não trẻ hơn 5 năm và ít bị suy giảm tinh thần hơn 40% so với những người ăn ít rau muống.

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/7/21/21/106675/Default.aspx

Thứ Tư, 26 tháng 1, 2011

Rau Tươi: Rau khúc

Jersey cudweed, often seen in springtime in Việt Nam, has many medicinal values. It is also used to make a popular snack/breakfast item called "bánh khúc" that is uniquely northern Vietnamese. Please see below for a version of vegan bánh khúc; it generally consists of glutinous rice, Jersey cudweed (for a naturally green color), mung bean, a pinch of salt, and black pepper.

Rau khúc, vị thuốc quý trong những ngày xuân

Nguồn: Lương y Huyên Thảo / Tiền Phong Online

TP - Rau khúc là một loài rau dại. Hằng năm, cứ tới mùa xuân, cây lại xuất hiện, mọc lên khắp nơi, thường hay gặp nhất ở trên các bãi hoang, bờ ruộng, bờ cát ven sông... Trong điều kiện thời tiết khí hậu ở phía Bắc, rau khúc tốt tươi nhất trong những ngày gần tiết Thanh minh, nên thời xưa một số địa phương còn đặt cho cây cái tên “Thanh minh thảo”.

Loài rau dại này có thể luộc hoặc nấu canh ăn như các thứ rau khác, nhưng chủ yếu được sử dụng để làm bánh khúc, nên dân gian mới được đặt tên là cây “Rau khúc”.
 

Bánh khúc, thực ra chỉ là những nắm xôi, bên trong có nhân làm bằng lá rau khúc giã nhuyễn, hấp chín cùng nhân đậu xanh, hạt tiêu... Thế mà trong những ngày xuân ở phía Bắc, khi tiết trời vẫn còn giá lạnh, sáng sớm hay đêm khuya, có được chiếc bánh khúc nóng vào bụng, sẽ có cảm giác rất khoan khoái và ấm áp trong lòng. Tiếng rao “Ai bánh khúc nóng ơ!” lúc đêm khuya suốt một thời gian dài từng là nét văn hóa đặc trưng của phố cổ Hà Nội. Còn hiện tại, tiếng rao đó chỉ còn là hoài niệm, thành nỗi nhớ của những người xa xứ lâu năm.

Hiện tại, trên một số tuyến phố Hà Nội, cũng có một số hàng chuyên bán bánh khúc, được quảng cáo là bánh khúc xịn, nhưng trên thực tế, có khi bánh được chế biến từ lá su hào hoặc lá gì khác nữa, khó mà biết được. Nay muốn có bánh khúc xịn thực sự, chỉ còn cách tự đi ra ngoại thành thu hái hoặc ra chợ mua rau khúc về làm.


Cây rau khúc còn có tên là "khúc nếp", "thử khúc thảo", "thử nhĩ", "hoàng hoa bạch ngải", "phật nhĩ thảo", "thanh minh thảo", "hài nhi thảo" ... Tên khoa học là Gnaphalium affine D. Don (Gnaphalium multiceps Wall.), thuộc họ Cúc (Asteraceae).


Rau khúc là loài cây thảo sống hằng năm, thân mảnh, cao chừng 10-20cm, có lông trắng mềm. Lá thuôn hình dĩa, có mũi nhọn, với lông mịn trắng ở mặt dưới.
Cụm hoa hình bông hay hình chùy mọc ở ngọn. Lá bắc thuôn hình trái xoan, hoa cái và hoa lưỡng tính rất nhiều. Tràng hoa các mảnh có ba răng nhỏ, tràng hoa lưỡng tính phình to từ gốc đến đỉnh. Quả bế thuôn dài.

Loài rau khúc này mọc hoang dại ở các vùng nông thôn khắp nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung; thường gặp trên các ruộng khô, bờ ruộng, ven đường ... Còn thấy mọc ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines và một số nước khác.


Để làm thuốc, thường hái lá hoặc toàn cây, tốt nhất vào lúc trước khi cây ra hoa hoặc tuy đã có hoa nhưng chưa nở. Dùng tươi tốt nhất, nhưng cũng có thể phơi khô để dùng dần.


Lưu ý: Ngoài loài mô tả ở trên, trên thực tế rau khúc còn có nhiều biến loài (biến chủng). Cùng một thời gian với loài khúc nếp nói trên, mùa xuân còn hay gặp loài “rau khúc tẻ”, còn có tên “rau khúc vàng”, tên khoa học là Gnaphalium luleo -album L., cũng thuộc họ Cúc.
Rau khúc tẻ cũng là cây mọc hàng năm, nhưng thân thường mọc đơn, cao 30-70cm, màu trắng, phủ lông như bông. Lá mọc so le, nguyên, hình trái xoan...

Tới cuối xuân, đầu hè, lại xuất hiện một loài rau khúc khác, có tên là “rau khúc nhiều thân”; tên khoa học là Gnaphalium polycaulon Pers.; cũng thuộc họ Cúc.


Ngoài ra, tại một số địa phương (bãi cát trên bờ sông ở ngoại thành Hà Nội, ở Sa Pa (tỉnh Lào Cai)... từ mùa hè còn có thể xuất hiện một loài khúc khác, gọi là “rau khúc dưới trắng”, sách thuốc Trung Quốc gọi đó là “rau khúc mùa thu” (thu thử khúc thảo; tên khoa học là Gnaphalium hypoleucum DC.; họ Cúc).


Rau khúc có nhiều biến loài, nhưng đều được làm thuốc với cùng tác dụng. Theo Đông y, rau khúc có vị ngọt, tính bình; vào 3 kinh Phế, Tỳ và Vị. Có công dụng khư phong tán hàn, hóa đàm chỉ khái, lợi thấp, giải độc.
Dùng chữa cảm mạo phong hàn, ho nhiều đờm, khí suyễn, phúc tả, bạch đới, tỳ hư thủy thũng, còn dùng chữa nhiễm độc đậu tằm, phong thấp đau nhức. Dùng ngoài chữa lở ngứa ngoài da, phong chẩn mẩn tịt, mụn nhọt sưng đau. Trong dân gian, ngoài công dụng làm bánh khúc ăn, thường dùng lá khúc để chữa ho, viêm chi phế quản.

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong rau khúc có chứa nhiều hợp chất thiên nhiên có lợi đối với sức khỏe. Toàn cây còn chứa tinh dầu (khoảng 0,05%), nên dùng cây tươi là tốt nhất.

Để bảo quản tinh dầu, khi sắc nên để nước sôi rồi mới cho rau vào, sôi lại nhắc ra và dùng ngay.
Liều dùng: Ngày dùng 10-16g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc hãm. Có thể thái nhỏ cho vào một ít đường, hấp trên nồi cơm cho uống.

Một số bài thuốc dùng rau khúc


- Chữa cảm lạnh phát sốt, ho:
Dùng toàn cây rau khúc khô 15-20g (hoặc 30-40g tươi), sắc nước uống trong ngày; Có thể thêm tía tô, kinh giới, mỗi thứ 9g, cùng sắc uống.


- Chữa cảm nắng, phát sốt, ho: Dùng rau khúc khô 30g, thanh cao 15g, bạc hà 9g, sắc nước uống trong ngày.

- Chữa viêm họng, hen suyễn nghẹt đờm: Dùng độc vị rau khúc khô 30g sắc uống; hoặc thêm gừng, hành, mỗi vị 10g cùng sắc uống.

- Chữa ho nhiều đờm:
Dùng rau khúc khô 15-20g, đường phèn 15-20g, sắc nước uống trong ngày.


- Chữa viêm khí quản mạn tính: Một bệnh viện ở Trung Quốc đã thử nghiệm sử dụng 50g rau khúc khô, sắc lấy nước đặc, chia thành 3 lần uống trong ngày, liên tục 10 ngày (một liệu trình).

Điều trị 165 ca viêm khí quản mạn tính đạt kết quả tốt: sau 2 liệu trình tỷ lệ khỏi bệnh đạt 81%.


Một bệnh viện khác thử nghiệm sử dụng rau khúc phối hợp với xa tiền thảo và liên kiều chữa viêm khí quản mạn cũng đạt kết quả tốt (Theo “Trung dược đại từ điển”).


- Chữa cao huyết áp:
Dùng rau khúc khô 12g, câu đằng 9g, tang ký sinh 9g, sắc nước uống trong ngày.


- Chữa đau nhức do thống phong:
Dùng lá và cành non cây rau khúc, rửa sạch, giã nát đắp vào chỗ đau sưng, băng cố định lại. Có tác dụng giảm đau khá tốt.


- Chữa gân cốt sưng đau, chân và đầu gối sưng thũng, đòn ngã tổn thương:
Dùng toàn cây rau khúc khô 30-60g, sắc nước uống trong ngày.


- Chữa vết thương sưng tấy, vết thương không liền miệng:
Dùng toàn cây rau khúc khô 30g, sắc nước uống trong ngày; đồng thời giã lá rau khúc tươi trộn với cơm giã nát đắp lên vết thương.


http://www.tienphong.vn/Khoe-Dep/Suc-Khoe/187928/Rau-khuc-vi-thuoc-quy-trong-nhung-ngay%C2%A0-xuan.html

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Rau tươi: Chữa bệnh thông thường bằng rau húng chanh & húng quế

Húng chanh - Mexican mint (Ảnh: Khánh Vy)
Herbs have some medicinal properties, such as the Mexican mint (aka Spanish thyme, Cuban oregano, Indian borage, and so on) and basil. These can be planted easily in pots.

Nguồn: Thanh Niên/Khánh Vy
Ngày 4 tháng 11, 2011

Húng chanh và húng quế là hai loại rau hay dùng trong các bữa ăn. Sau đây là một số cách ứng dụng hai loại rau này vào chữa bệnh thông thường, theo hướng dẫn của lương y Như Tá và lương y Quốc Trung.

Húng chanh

Theo Đông y, cây húng chanh (còn có tên là tần dày lá) có vị cay, tính ấm, có tác dụng giải cảm cho ra mồ hôi, chữa ho, tức ngực, cảm sốt (nóng, rét) nhức đầu và ngạt mũi, chữa viêm họng, dùng tắm ngoài chữa dị ứng.

Ứng dụng:

- Chữa bệnh cảm cúm sốt nóng, rét: Lá húng chanh 30g, gừng tươi 3 lát mỏng, hành tươi 3 củ (cả rễ, củ, lá). Đem tất cả sắc (nấu) lấy nước, cho bệnh nhân uống làm 2 lần trong ngày, uống lúc nước còn nóng ấm. Ngày uống 1 lượng như trên, và dùng liền trong 2 ngày.

- Chữa bệnh cảm lạnh, sốt: Lá húng chanh 15g, bạc hà 5g, tía tô 8g, gừng tươi 3 lát mỏng. Đem tất cả nấu lấy nước uống 1 lần trong ngày.

- Chữa ho, viêm họng: Hái vài lá húng chanh nhai, ngậm trong miệng một lát, rồi nuốt nước, bỏ xác. 

Húng quế - Basil (Ảnh: Khánh Vy)
Húng quế

Theo Đông y, húng quế có vị cay, tính nóng, có mùi thơm, có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiểu, giảm đau. Quả có vị ngọt và cay, tính mát, có tác dụng tốt cho thị lực. Toàn cây có tác dụng chữa cảm cúm, cảm sốt nhức đầu, nghẹt mũi, đầy bụng, kém tiêu.

Ứng dụng:

- Chữa bệnh cảm cúm đầy bụng: Húng quế 20g, húng chanh 10g, lá hồng bì 8g, vỏ quýt 6g. Đem tất cả nấu lấy nước để uống, chia làm 2 lần dùng trong ngày. Dùng 3 ngày liền như thế.

- Chữa đại tiện táo kết: Hạt húng quế 5-10g, rau mồng tơi 50g. Đem cả hai nấu canh để ăn.

- Chữa viêm họng: Húng quế 20g, củ rẻ quạt 6g, gừng tươi 5 lát. Đem tất cả nấu lấy nước, và chia làm 2-3 lần uống trong ngày.

- Chữa đầy bụng khó tiêu: Húng quế 20g, gừng tươi 5 lát đem sắc (nấu) lấy nước dùng trong ngày. Hoặc có thể ăn sống.

http://www.thanhnien.com.vn/news/Pages/201102/20110104233731.aspx

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Rau Tươi: Họ nhà cải làm thuốc (Cải xoong, Cải thìa, Cải xanh, Cải cúc)

Trích đoạn bài do Song Linh tổng hợp, đăng trên Phụ Nữ Online www.phunuonline.com.vn

Họ nhà cải làm thuốc

Họ nhà cải không chỉ cho nhiều loại rau ngon, bổ, giúp giải nhiệt mùa nóng mà đằng sau loại rau hết sức quen thuộc, bình thường này, còn mang lại những bài thuốc hay chữa bệnh.

Cải xoong

Tính vị: Cải xoong hay còn gọi xà-lách xoong, là một loại rau tốt cho cơ thể. Cải xoong có vị đắng, mùi thơm, tính mát, tác dụng thanh huyết, giải nhiệt, giảm đau, thanh phế tư dưỡng. Từ thời Trung cổ, người ta đã dùng làm thuốc lọc máu và trị bệnh đường hô hấp. Ngoài ra, cải xoong còn có tác dụng kích thích tiêu hóa, cung cấp chất khoáng cho cơ thể, lợi tiểu, giảm đường huyết, trị giun và giải độc nicotin.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cải xoong được dùng làm thuốc uống trong trị chứng ăn mất ngon, cơ thể suy nhược, tạng bạch huyết, bệnh scorbut  [scurvy], chứng thiếu máu, bệnh lao, ho và các bệnh đường hô hấp, cảm cúm, sỏi mật, các bệnh về gan mật, sỏi thận và các bệnh đường tiết niệu; ký sinh trùng đường ruột; thấp khớp.

Dùng ngoài chữa bệnh ngoài da eczema, ghẻ, hắc lào, rụng tóc, bệnh về da đầu, vết thương, ung nhọt, mụn tràng nhạc, lở loét, đau răng, viêm lợi răng.
 

Có thể dùng tươi ăn sống như xà-lách, hoặc giã ra lấy nước cốt uống, lấy dịch xoa, làm thuốc xức. Cũng có thể hãm uống. Liều dùng 50-100g.

Đơn thuốc:

1. Nóng bức mùa hè, người mệt, hắt hơi: dùng cải xoong một nắm (60g), rửa sạch, vò hay giã nát, thêm nước, lọc và pha đường uống.

2. Trị giun, giải độc, lợi tiểu: dùng cải xoong tươi giã nát lấy nước cốt uống, hoặc dùng một nắm cải xoong, 3 củ hành tây, 2 củ cải cho vào 1 lít nước, sắc lấy nước, uống ngày 2 ly giữa các bữa ăn.  


Cải thìa

Cải thìa có nhiều vitamin A, B, C. Đặc biệt, lượng vitamin C dồi dào, đứng vào bậc nhất trong các loại rau. Sau khi phơi khô, hàm lượng vitamin C vẫn còn cao.

Tính vị, tác dụng: Cải thìa là thực phẩm dưỡng sinh, ăn vào có thể lợi trường vị, thanh nhiệt, lợi tiểu tiện và ngừa bệnh ngoài da. Cải thìa có tác dụng chống scorbut [scurvy], tạng khớp và làm tan sưng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cây trồng để lấy lá làm rau xanh. Phần bắp phình lên màu trắng, mềm, có thể dùng ăn sống như xà-lách hay xào, nấu, hoặc để muối dưa.

Ngoài ra, cải thìa còn được sử dụng:

1. Làm thuốc thanh nhiệt: Người bị bệnh nội nhiệt nặng, môi khô hay lưỡi sinh cam, chân răng sưng thũng, kẽ răng chảy máu, họng khô cứng; thường gọi là bệnh tân dịch không đủ, nội hỏa bốc lên, mà nguyên nhân là do thiếu vitamin C, có thể dùng cải thìa làm nguồn cung cấp vitamin C sẽ giúp điều trị bệnh này. Nấu canh rau cải thìa ăn còn cho tác dụng thanh hỏa rất tốt.

2. Nước ép cải thìa có lợi cho trẻ em, trị nội nhiệt: Trẻ em bú sữa bò thường có bệnh nội nhiệt, cũng là thiếu vitamin C. Hoặc như khóe mắt có nhử dính, ghèn mắt dính chặt, mi mắt hoặc môi khô, ngủ không được, hay khóc đêm, chỉ cần lấy cải thìa dầm nát, cho nước sôi để nguội vào, lọc lấy nước, sau nấu sôi lên đợi âm ấm, đút cho trẻ uống hoặc đổ vào bình sữa cho trẻ mút. Sau 1 tuần, hiện tượng nội nhiệt mất dần.

3. Trị bệnh hoại huyết: Dùng cải thìa tươi hoặc khô nấu ăn như rau tươi để đảm bảo dinh dưỡng bình thường và phòng chống bệnh hoại huyết, nhất là đối với người đi tàu viễn dương xa đất liền nhiều ngày. Người ta biết được điều này cách đây 700 năm.  


Cải xanh

Còn gọi là cải bẹ xanh, hay cải cay. Ở nước ta, cải xanh được trồng rất phổ biến khắp cả nước làm rau ăn, có thể trồng quanh năm, trừ những tháng nóng và mưa nhiều.

Dưa cải là món ăn thông thường. Có thể dùng ăn sống, nấu canh, xắt nhuyễn chưng, hay kho. Dưa cải có thể muối ăn liền (muối xổi), chọn cây có ngồng, cắt khúc, phơi héo rồi muối trong 1-2 ngày để ăn; hoặc muối dưa để lâu (nguyên cây phơi héo, muối trong hũ để ăn trong 2-3 tháng).

Tính vị, tác dụng: Cải xanh là loại rau lợi tiểu. Hạt cải có hình dạng, tính chất và công dụng như hạt mù-tạc đen của châu Âu. Người ta cũng ép hạt lấy dầu (tỷ lệ 20%) chế mù-tạc làm gia vị và dùng trong công nghiệp. Trong y học Đông Phương, hạt cải xanh có vị cay đắng, tính ấm, có tác dụng an thần, tiêu hóa đờm thấp, tiêu thũng, giảm đau.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Dùng chữa ho hen, làm tan khí trệ, chữa kết hạch, đơn độc sưng tấy. Ở Trung Quốc, hạt và cả cây cũng dùng làm thuốc chữa ho, long đờm, tiêu thũng, giảm đau.

Đơn thuốc:

1. Chữa ho hen, đờm suyễn ở người già: hạt cải xanh, hạt củ cải, hạt tía tô, mỗi vị 8-12g, sắc uống, ngày uống 2-3 lần.

2. Viêm khí quản: Hạt cải xanh (sao) 6g, hạt cải củ (sao) 10g, hạt cải bẹ (sao) 10g, nước 600ml, sắc còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày.

3. Đơn độc sưng tấy: Hạt cải xanh tán nhỏ, trộn giấm, làm cao dán, đắp ngoài. 


Cải cúc

Còn gọi là rau tần ô. Về thành phần hóa học: cải cúc chứa nhiều vitamin B, C và một số vitamin A. Ngoài ra còn các chất khác như adenin, chlonin, lipid, glucid, protid.

Tính vị, tác dụng: Cải cúc có vị ngọt nhạt, hơi đắng, the, mùi thơm, tính mát, được xem như một loại rau giúp khai vị làm ăn ngon, giúp tiêu hóa, trừ đờm, tán phong nhiệt.

Công dụng, chỉ định và phối hợp
: Cải cúc có thể dùng ăn sống như xà-lách, chế dầu giấm, ăn với lẩu, nấu canh. Còn dùng làm thuốc chữa ho lâu ngày và chữa đau mắt. Ở Ấn Độ, người ta dùng cây phối hợp với hồ tiêu để trị bệnh lậu; hoa được dùng thay thế dương cam cúc như là một chất thơm đắng và lợi tiêu hóa.

Đơn thuốc: Những người ăn uống kém tiêu, viêm lỵ, hay đau mắt: Dùng cải cúc ăn sống hoặc nấu canh ăn, đều có tác dụng trị bệnh tốt.


Song Linh (tổng hợp)
Nguồn: Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam

http://www.phunuonline.com.vn/suckhoe-dinhduong/2010/Pages/ho-nha-cai-lam-thuoc.aspx

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

Rau Tươi: Lá Cách

Lá cách (Ảnh: Ẩm Thực Chay & Pháp Hỷ Thực)
Nhân hình ảnh lá cách rất xanh và rất đẹp của Trang Ẩm Thực Chay và Pháp Hỷ Thực giới thiệu, xin được tìm hiểu về một loài rau quê hương.

Trích đoạn bài viết của Nhật Linh trên Trang thông tin điện tử tỉnh Tiền Giang.

Lá cách - Xa quê còn nhớ mãi

Trong các thứ rau dân dã, lá cách là loại rau được người dân miệt vườn ưa thích nhất, là món ăn khoái khẩu không thể thiếu trong bữa tiệc bánh xèo...

Lá cách mọc nhiều ở ven sông, kênh rạch, nơi bãi bồi hoặc xen lẫn trong vườn cây, là loại thân mộc, có thể gieo trồng bằng hạt hoặc giâm bằng hom. Chúng phát triển rất nhanh, cây càng to, càng nhiều cành thì mới cho nhiều lá non, đó chính là những lá người ta dùng để ăn sống.

Cây cách gắn liền với cuộc sống của người dân Nam bộ với các món ăn được sáng tạo từ thời khai hoang, mở đất. Hồi còn ở quê, nội tôi thường dùng lá cách non xào với xác đậu nành, món ăn mộc mạc của những người nghèo thế mà ngon không chỗ nào chê, nó vừa no bụng vừa là món ăn bổ dưỡng. 


Để chế biến món ăn này, nội tôi nạo một trái dừa khô, vắt lấy nước cốt cho vào chảo đun sôi, sau đó tùy theo khẩu phần mà cho xác đậu nành và giá đậu vào, nêm nếm muối, bột ngọt [chú thích của VNAC: ngày nay chúng ta nên dùng chất ngọt thiên nhiên] cho vừa ăn, tiếp tục xào cho ráo nước, cuối cùng mới cho lá cách xắt nhuyễn vào xào sơ vài bận thì nhắc xuống dùng nóng với nước tương. Xác đậu nành là thứ người ta bỏ đi sau khi xay lấy hết nước cốt, thường người ta đem cho heo ăn, nhưng đối với những người dân nghèo quê tôi lại là món ăn ngon vào những lúc sum họp gia đình khi biết khéo léo kết hợp nó với loại lá cách đặc trưng. Mùi thơm của lá cách, vị béo của xác đậu và nước cốt dừa cộng với chút nước tương cay cay tan trên lưỡi, ta ăn mà nghe ngây ngất hương quê.

Vào ngày Tết Đoan Ngọ, người dân quê thường hay đổ bánh xèo để cúng gia tiên và thết đãi con cháu. Chộn rộn nhất vẫn là tìm sao cho được rổ rau vườn với đủ thứ cải trời, cơm nguội, lá lụa, rau má, đọt sộp... gì thì gì nhưng nếu thiếu lá cách coi như món bánh xèo giảm đi một phần ba sự hấp dẫn.

Cây cách dễ trồng nên hầu như nó có mặt ở khắp vùng nông thôn và hiện nay thì nó được xem như thứ rau đặc sản của vùng đồng bằng. Người ta bẻ những nhánh non đem ra chợ bán, có khi giá tăng vọt lên 10.000 đến 15.000 đồng/kg, nhưng không phải lúc nào cũng có. Những gì thuộc về của hiếm thì tự nhiên trở thành đặc sản và người ta rất quí trọng, cho nên trong việc khai thác họ cũng rất cẩn thận chăm chút, bẻ cành không dám bẻ sâu sợ cây chết. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm miệt vườn, hái lá cách phải bẻ luôn nhánh, bẻ càng sâu bao nhiêu thì chúng nẩy chồi nhiều bấy nhiêu, do đó sẽ cho ra nhiều đọt non hơn.

Mấy năm nay sống xa nhà, mỗi lần về quê tôi lại ùa ra vườn như trẻ con, thường là tìm hái mớ rau dân dã, tôi cũng không quên bẻ một ít nhánh lá cách đem về ăn sống. Gọi là lá cách, nhưng nó vẫn luôn luôn gần gũi với cuộc sống đời thường, mà bất cứ ai một lần xa quê cũng sẽ còn nhớ mãi.


Nguồn: http://www.tiengiang.gov.vn/xemtin.asp?idcha=1769&cap=3&id=6834

Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

Rau Tươi: Húng quế, Sả, Húng cây

Những loại thảo dược từ rau thơm

Các loại rau thơm được dùng nhiều trong ẩm thực nhằm tăng thêm hương vị cho món ăn. Chúng thuộc loại thảo mộc, dễ trồng, dễ chăm sóc. Bên cạnh đó, đây còn là những dược liệu quý cần thiết cho mỗi gia đình.

Húng quế, sả (cỏ chanh), bạc hà là những loại rau gia vị rất quen thuộc, được dùng nhiều trong các món ăn Việt Nam cũng như món ăn Âu, Á. Tận dụng một khoảng sân nhỏ ở góc vườn hay ngay chính ban-công, mỗi nhà có thể có một khu vườn thảo mộc cho riêng mình.

Ngoài việc được dùng như những thứ rau gia vị không thể thiếu trong các món ăn, các loại rau này còn được biết đến như những loại thảo dược có công dụng khá hữu hiệu trong việc chữa trị những bệnh thông thường mà rất nhiều người gặp phải. Mặt khác, việc chăm sóc chúng cũng khá đơn giản và không mất nhiều thời gian vì đây toàn là những loại rau dễ trồng. 


Húng quế

Húng quế thuộc họ Labiatae (cây hoa môn) có nguồn gốc từ Ấn Độ, thường được dùng để chữa bệnh cho vua chúa khi xưa. Đất ẩm sẽ là môi trường thích hợp để cây phát triển. Khi trồng húng quế, không nên bón nhiều phân vì nếu bón phân quá mức sẽ làm giảm lượng tinh dầu thơm rất đặc biệt của cây. Để cây phát triển tươi tốt, mọc rậm rạp thì nên thường xuyên cắt tỉa cành, tốt nhất là cứ mỗi 2 đến 3 tuần 1 lần.

Theo y học, húng quế rất tốt cho hệ tiêu hóa, trị chứng đầy hơi, co thắt dạ dày, đau bụng, khó tiêu. Bên cạnh đó, nó còn có tác dụng kích thích sữa cho những bà mẹ mới sinh hoặc làm dịu cơn buồn nôn ở một số người. Húng quế cũng có tác dụng kích thích mọc tóc. Người ta thường vò nát lá quế, sau đó xát lên da đầu, massage nhẹ nhàng. Khi dùng cho da, nó có tác dụng làm se lỗ chân lông và có thể được xem như một thứ nước tắm rất mát cho cơ thể. 


Sả (Cỏ chanh)
   
Sả thường được trồng bằng cách chiết cây, khi sả đủ lớn, người ta có thể tách chồi của nó để găm những bụi sả mới. Việc chăm bón cho sả cũng khá bình thường, chỉ cần tưới nước, bón phân 3 tuần 1 lần. Sả rất tốt cho hệ tiêu hóa, có tác dụng kích thích ra mồ hôi, hạ sốt ở người bệnh cảm và giúp lợi tiểu. Mặt khác, sả còn được dùng để điều trị chứng co thắt cơ, chuột rút, thấp khớp, đau đầu.

Trong vấn đề chăm sóc sắc đẹp cho chị em phụ nữ, sả cũng rất hữu dụng vì tinh dầu sả chứa nhiều vitamin A. Khi trên người có những vết thâm, chỉ cần nấu 1 ít sả giống như trà, xoa nhẹ sẽ giúp xóa tan những mảng thâm. Món ăn có sự kết hợp giữa sả và hạt tiêu sẽ giúp giảm những rắc rối về kinh nguyệt và chứng nôn mửa. Tuy nhiên, tinh dầu sả có thể là nguyên nhân gây dị ứng sưng tấy da ở một số người.  


Rau bạc hà , còn gọi là húng cây (Ảnh: Việt Nam Ăn Chay)
Bạc hà (Húng cây)

Bạc hà thuộc họ Labiatae giống húng quế, có ở vùng Đông Bắc Âu và châu Á. Bạc hà rất dễ chăm sóc, không cần phải bón phân, chỉ cần tưới nước. Mặc dù người ta có thể trồng nó bằng hạt nhưng trồng bằng cách chiết cành, cây sẽ sinh trưởng nhanh hơn. Nếu trồng bạc hà ở vườn nên chú ý đến ánh nắng mặt trời vì khi nắng quá gay gắt, sẽ làm cây khô héo, trụi lá.

Bạc hà là một bài thuốc khá hữu hiệu trong việc chữa trị cảm cúm và các vết côn trùng cắn, giúp lợi tiêu hóa, chữa chứng đầy hơi, thấp khớp, nấc cục, thông cổ, trị viêm xoang nhẹ. Dầu bạc hà cay có thể làm dịu cơn hen suyễn nhẹ bằng cách ngửi. Nhưng với những phụ nữ có mang thì nên thận trọng khi dùng vì rất có thể dẫn đến sẩy thai.

Có thể thấy, mỗi loại rau thơm với nhiều công dụng khác nhau được giới thiệu trên đây đều là những vị thuốc quý. Chúng được lưu truyền như những bài thuốc dân gian cực kỳ công hiệu và cũng không khó khăn gì để mỗi gia đình tự trồng và chăm sóc vườn thuốc nhỏ ấy cho mình.


http://suckhoeso.com/detail/nhung-loai-thao-duoc-tu-rau-thom.html

Bài đăng phổ biến