According to this chapter on karma by author Bạch Liên of the Theosophical Society, all our thoughts and actions are registered in the Akashic Records. There are Lords overseeing various realms who handle karmic debts to adjust the balance in our universe, based on each being's actions.
"What you sow, so shall you reap" is not at all Heaven's revenge but a lesson for us to be wiser and not to violate the law of Nature. By being held accountable and paying for the consequences, we learn not to repeat the same mistake.
CHƯƠNG THỨ TƯ (A): QUẢ BÁO TRẢ TỪ CẢNH
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
Người ta thường nói: Làm lành lành đến, làm dữ dữ đến. Đúng vậy, nhưng đây là lời nói tổng quát mà thôi. Thật ra quả báo trả từ cảnh.
Quả báo của tư tưởng thuộc về cõi Trí tuệ thì trả cho cái Trí.
Quả báo của ý muốn và tình cảm thuộc về cõi Dục giới thì trả cho cái Vía.
Quả báo của lời nói và việc làm thuộc về sự hành động ở cõi Trần thì trả cho xác thân.
Biệt Nghiệp và Cộng Nghiệp
Quả riêng của một người gọi là Biệt Nghiệp, còn quả chung của nhiều người gọi là Cộng Nghiệp.
Tỷ như dân chúng một nước, một xứ, một tỉnh, một quận, một tổng, một làng, một xóm, một gia đình đồng chịu chung một tai nạn về chiến tranh, giặc giã, hạn hán, lụt lội, đói khát, thất mùa, hỏa hoạn, loạn ly v.v…hoặc những người đi chung một chuyến xe, một chuyến tàu, một chuyến máy bay mà xe lật, tàu chìm, máy bay rớt.
Nhưng mà không phải tất cả đều chia sớt gánh nặng đồng đều với nhau mà có người ít, có người nhiều, có khi có người chết, có khi không có, có khi có nhiều người bị thương tích, nặng có, nhẹ có, mà cũng có những người trong lúc bị tai nạn chỉ hoảng hốt sợ sệt trong một lúc chớ không có hề chi cả. Ấy tại căn quả của mỗi người mỗi khác, chúng ta tai phàm mắt thịt không biết đâu mà định được.
Chúng ta có thể nói rằng: Có những sự khác nhau là tại cũng thời phạm chung một tội mà có người hữu ý, có người vô tâm. Có người trong thời gian quả chưa tới lại phát nguyện tu hành, làm nhiều việc phước thiện. Quả tốt nầy bù trừ quả xấu đã tạo ra.
Những người chết là những người tới số, còn những người căn phần chưa tới đều có những người khuất mặt che chở.
Tôi đã chứng kiến một tai nạn xe hơi xin thuật lại cho quí bạn nghe.
Cách đây trên ba chục năm, tôi không nhớ rõ ngày nào và năm nào, một bữa kia, hồi 4 giờ sáng tôi từ Tân Định ra chợ Bến Thành lên xe hơi đặng về Châu Đốc. Xe tôi đi chạy tới cầu Tân An thì trời sáng. Tôi thấy bên kia dốc cầu một chiếc xe cam nhông lật xuống ruộng đưa bốn bánh lên trời. Ấy là chiếc xe chạy đường Sài gòn Bạc liêu, đi trước xe tôi 15 phút. Xe tôi ngừng lại cho hành khách xuống, đặng chở những người bị bịnh đến nhà thương Tân An. Cũng may không có ai chết. Có nhiều người bị thương, trong đó có một thiếu phụ bị gãy chơn mà đứa con nhỏ lối 7 – 8 tháng (không nhớ trai hay gái) của thiếu phụ không hề gì.
Tôi muốn quí bạn lưu ý đến trường hợp nầy. Xe lật nó lăn không biết mấy vòng mới xuống tới ruộng. Đáng lẽ đứa nhỏ văng khỏi tay mẹ nó và bị gãy cổ hay là bể sọ chết rồi. Tại sao mẹ nó phải mang tật mà nó với bao nhiêu hành khách nữa không bị thương tích chi cả. Có phải là điều hết sức lạ lùng không ?
Nếu có người nầy may, còn người nọ rủi thì sao là may, sao là rủi, nói là số mạng thì đúng hơn.
Ai định cách trả quả?
Xưa nay người ta vẫn tin rằng trời định số mạng cho con người. Phú bần, thọ yểu, thạnh suy, bỉ thới, đều do Trời sắp đặt sẵn trước, không ai cưỡng lại được. Điều nầy đúng vậy. Nhưng phải có lý do nào đó, cho nên phần số của mỗi người đều mỗi khác. Không tri ra nguyên nhơn rồi lại nói rằng: Tại Đức Thượng Đế muốn như vậy đặng cho thiên hạ biết quyền năng của Ngài thì không có giải chi hết mà lại làm ra một vị Thượng Đế bất công. Tất cả nhơn loại là con của Ngài, cớ sao lại có đứa thương, đứa ghét, nên chi cõi trần của Ngài sanh ra không hỗn loạn sao được.
Vậy thì sự thật thế nào ?
Các Đấng Chí Tôn Nam Tào Bắc Đẩu
Thật sự là Trời định số mạng của chúng sanh do theo những quả của họ đã gây ra trong những kiếp trước, nhứt là kiếp mới rồi hay là kiếp chót.
Những Đấng Chí Tôn thay mặt Đức Thái Dương Thượng Đế đặng định số phần của con người, tiếng Phạn gọi là Lipika, tiếng Pháp là Seigneurs du Karma, Tàu gọi là những vị Nam Tào Bắc Đẩu.
Các Ngài thành chánh quả ở Thái Dương Hệ trước và qua giúp Thái Dương Hệ của chúng ta, không biết đã mấy tỷ năm rồi, để tạo lập và điều khiển Tiểu Vũ Trụ nầy.
Các Ngài cho hòa giải tức là điều chỉnh lại những lực của con người đã phóng ra làm xáo trộn sự thăng bằng và sự điều hòa của Vũ trụ. Các Ngài cho lập lại sự quân bình nầy xuyên qua con người, trong đạo đức gọi là trả quả cho dễ hiểu. Các Ngài không thêm mà cũng không bớt cái chi cả và không hề làm sai lạc sự công bình một mảy lông.
Các Ngài còn coi theo khả năng và trình độ tiến hóa của mỗi người rồi cho họ trả một số quả thích ứng với sức chịu đựng của họ. Số quả nầy được chọn lọc kỹ lưỡng, nó gồm một số quả đã gây ra ở kiếp trước, hiệp với một số quả thuộc về loại quả tích trữ, làm sao cho trong lúc trả quả con người tiến thêm một bước nữa, gần mục tiêu của Đức Thái Dương Thượng Đế đã định sẵn. Trả quả là một bài học khôn ngoan, sau đừng vi phạm luật Trời nữa, chớ không phải là sự trả thù của Thiên Nhiên.
Thường thường những sự đau khổ đến cho con người là tại con người gây ra ở kiếp nầy và cũng tại con người tính toán lầm lạc và không biết cách trả quả, không chịu trách mình mà cứ trách Trời.
Làm sao các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu biết được những quả của mỗi người gây ra tốt hay xấu, đặng định tội phước?
Có người còn thắc mắc điều nầy: “Tư tưởng, lời nói và việc làm của con người vốn vô hình, sanh ra rồi chẳng bao lâu chúng nó tan mất hết”.
Mỗi ngày, mỗi người tưởng, muốn và hành động cả trăm, cả chục lần; ngày nầy qua ngày nọ như vậy mãi, mà không phải chỉ có một người, hiện giờ [vào đầu thập niên 1970] trên địa cầu có 4 ngàn triệu tức là 4 tỷ con người. Trọn ngày, có cả chục ngàn triệu tư tưởng, ý muốn, lời nói và việc làm của họ rải lên không trung lẫn lộn nhau và kéo dài trọn kiếp sống của họ, bực trung là 4 – 5 chục năm.
Vậy thì làm sao các Đức Nam Tào Bắc Đẩu biết được, mỗi người tưởng, muốn và hành động bao nhiêu lần, và tốt hay xấu đặng định tội phước.
Chí lý thay những nghi vấn nầy. Vậy tôi xin giải ra sau đây:
Những hình “Tiên Thiên Ký Ảnh” bất diệt
Ít ai biết rằng từ hình dáng, diện mạo, y phục, cho tới tư tưởng, ý muốn, lời nói và việc làm của mỗi người tại đâu, thuở nào, và năm, tháng, ngày, giờ đều có ghi trên chất khí rất tế nhuyễn A ka sa (Akasa) và những hình ảnh của chúng nó làm ra, pháp môn gọi nó là Clichés akasiques, xin tạm dịch là Tiên Thiên Ký Ảnh. Những Tiên Thiên Ký Ảnh nầy vốn bất diệt, tới chừng nào Thái Dương Hệ nầy tan rã chúng nó mới tiêu mất.
Theo nghĩa thường, A ka sa là chất khí làm ra cõi Niết Bàn và người ta gọi chỗ chứa những Tiên Thiên Ký Ảnh là ký ức của Đức Thái Dương Thượng Đế (Mémoire du Logos).
Những Tiên Thiên Ký Ảnh dọi hình xuống tới ba cõi dưới: Bồ đề, Thượng giới và Trung giới. Nhưng xuống cõi Trung giới thì chúng nó thường bị đứt đoạn.
Người nào có Thiên nhãn và Huệ nhãn thấy chúng nó dễ dàng, còn những người mới có Thần nhãn thì có khi thấy, nhưng không được rõ ràng và có chỗ còn, có chỗ mất, vì thế họ thường lầm lạc. Phải luyện tập lâu ngày và có kinh nghiệm mới nói trúng.
Mấy người có Thần nhãn không bao giờ nói đúng hết những chuyện vị lai. Trong mười chuyện họ nói trúng chừng hai ba chuyện thôi.
Một lẽ khác nữa, mỗi người gây ra những quả với cả trăm, cả ngàn kẻ khác. Có những sợi dây vô hình buộc họ với những người đó, không khác nào một con nhện bủa lưới khắp chung quanh mình nó, những đường tơ nhện đều dính với con nhện ở chính giữa. Đối với mắt phàm của chúng ta, chúng ta không thấy chi hết, nên chúng ta không tin hay là còn hoài nghi.
Còn đối với các Đấng Chí Tôn, Nam Tào Bắc Đẩu, thì không có quá khứ, không có vị lai, chỉ có hiện tại vĩnh cửu. Các Ngài thấy rõ những việc đã xảy ra và sẽ xảy ra cả ngàn triệu năm trước và cả ngàn triệu năm sau như đọc một cuốn sách giở ra trước mắt các Ngài. Không bao giờ các Ngài lầm lạc được.
(Chương 4 còn tiếp)
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ NHÌ: VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ BA: BA THỨ QUẢ
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khuôn Vàng Thước Ngọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khuôn Vàng Thước Ngọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011
Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011
Khuôn Vàng Thước Ngọc: Ba thứ quả (Bạch Liên)
Food for thoughts from author Bạch Liên: Thoughts are communicable. Negative thoughts attract the negative. Positve thoughts attract the positive. Replace the negative with the positive because the mind can only contain one thought at a time. The universe is formed by the Sound (vibration); therefore every word has extraordinary energy. If we cannot say something that is true, kind, and beneficial, than it is better to remain silent.
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ NHÌ: VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ
Không có ai phạm tội ngoại tình hay tà dâm. Cũng không có trộm cướp. Thật là thuần phong mỹ tục. Họ cũng có vua và quan vậy nhưng không hề nghe nói dân chúng thán oán. Xứ họ mới thiệt là cõi thiên đàng tại thế.”
Mấy vị Bác Sĩ tuyên bố rằng: từ đó đến giờ chưa thấy một đứa bé nào như nó. Có một vị biết tôi nghèo khổ nên chịu cho tôi 20 ngàn đô la đặng bắt lấy nó. Nhưng dầu cho đem hết vàng bạc trên thế gian đặng bắt lấy nó, tôi cũng chẳng chịu. Tôi biết tôi đã thành công. Tôi thấy gương mặt nó giống hệt bức tranh của nhà mỹ thuật Boileau, còn hình vóc nó un đúc theo những lằn đẹp của những thần tượng mà tôi đã thường ngắm.”
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ NHÌ: VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ BA: BA THỨ QUẢ
QUẢ MUỒI - QUẢ TÍCH TRỮ - QUẢ ĐƯƠNG TẠO
Có ba thứ quả:
1/ Quả Muồi. Tiếng Phạn là Prarabdha, dịch ra tiếng Pháp là Karma mûr;
2/ Quả Tích trữ hay là Quả Chồng chất. Tiếng Phạn là Sanchita, dịch ra tiếng Pháp là Karma accumulé;
3/ Quả Đương tạo. Tiếng Phạn là Kriyamana, dịch ra tiếng Pháp là Karma en formation.
A . QUẢ MUỒI HAY LÀ ĐỊNH MẠNG.
Quả muồi là quả mà ta phải trả trong kiếp nầy, không thể dời lại kiếp sau, cũng như trái chín muồi thì rụng xuống, không còn dính ở trên cây được nữa.
Hai phần của định mạng.
Định mạng của đời người chia làm hai phần:
1.- Phần thứ nhứt, từ lúc còn ở trong bào thai cho tới khi lọt lòng mẹ.
2.- Phần thứ nhì, từ ngày lọt lòng mẹ cho tới khi bỏ xác.
PHẦN THỨ NHỨT: Đầu thai vào giống dân nào, nước nào, gia tộc nào, ở đâu, nam hay nữ, vóc giạc và diện mạo ra sao, thông minh hay đần độn, có khiếu về một hay nhiều môn, bị tật nguyền hay mắc một chứng bịnh di truyền của cha mẹ, hoặc thừa hưởng một tánh tốt của ông bà đã mở mang mà chưa có dịp đem ra áp dụng v.v… là những điều mà con người phải bó tay trước định mạng. Tuy nhiên, nếu biết định luật thì có thể sửa đổi được phần nào về diện mạo, sức khỏe và thêm một ít thông minh cho đứa nhỏ.
PHẦN THỨ NHÌ: Được cha mẹ thương yêu hay ghét bỏ, sung sướng hay vất vả, học hỏi mau thông hay chậm hiểu, lớn lên thường thành công hay thất bại, những bước thăng trầm trên hoạn lộ, những biến cố xảy đến thình lình, được những sự may mắn hay rủi ro, là số tiền định đã ghi sẵn.
Mặc dầu như vậy, có thể sửa đổi cái xấu ra cái tốt, nếu quả chưa đến.
NHỮNG ĐIỀU TA NÊN BIẾT VỀ SỰ TẠO RA HÌNH HÀI CỦA THAI NHI
Có ba công việc huyền bí liên quan đến sự tạo ra hình hài của thai nhi, tưởng người học đạo cũng nên biết, ấy là:
1.- Thứ nhứt: Quả muồi do các Đức Nam Tào Bắc Đẩu chỉ định.
2.- Thứ nhì: Hình Tư tưởng hay là Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương.
3.- Thứ ba: Công việc của Sứ giả và các Tiểu thần.
I: QUẢ MUỒI DO CÁC ĐỨC NAM TÀO BẮC ĐẨU CHỈ ĐỊNH.
Khi một Linh hồn sắp trở lại cõi trần đầu thai một lần nữa thì các Đấng Chí Tôn Nam Tào Bắc Đẩu xem xét: số quả của y đã gây ra trong kiếp mới rồi với những ai, số quả tích trữ của y và mức độ tiến hóa của y. Các Ngài mới lựa trong những quả đó một số quả, tốt có, xấu có, mà các Ngài xét rằng: với sức chịu đựng của y, y có thể thanh toán trong kiếp đó, và làm sao trong lúc y trả quả, y lại tiến lên một bực nữa.
Số quả nầy, ta gọi là ĐỊNH MẠNG. Xong rồi các Ngài mới làm ra một cái khuôn ghi một số quả của phần thứ nhứt.
II: HÌNH TƯ TƯỞNG HAY LÀ SỨ GIẢ CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG
Các Đức Nam Tào Bắc Đẩu giao khuôn nầy cho 4 vị Đại Thiên Thần cai quản 4 chất hay là 4 hành: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, và làm chủ 4 phương: Đông, Tây, Nam, Bắc; người ta gọi là Tứ Đại Thiên Vương, (4 Maharajahs hoặc Chatour dévas), sự thật là có 7 vị.
Tứ Đại Thiên Vương mới sanh ra một hình tư tưởng, một thực thể linh động, tuân theo triệt để mạng lịnh của các Ngài.
Vị Sứ giả nầy lãnh trách nhiệm làm cái Phách của đứa nhỏ y theo cái khuôn của các Đức Nam Tào Bắc Đẩu đưa ra.
Công việc nầy xong xuôi rồi, các Tiểu thần mới coi theo cái Phách mà làm ra Xác thân của hài nhi, nhứt là cái óc và những dây thần kinh cho đúng với căn quả của nó.
Vẫn biết tinh trùng phối hợp với tiểu noãn mới đậu thai, song nếu không có bàn tay vô hình trợ giúp thì không khi nào thành ra một đứa bé, trai hay gái, có đủ mặt mũi, tay chơn, tóc tai, xương, thịt đâu. Họa chăng nói rằng: tại tinh trùng đực phối hợp với tiểu noãn đực mới sanh ra con trai, còn tinh trùng cái phối hợp với tiểu noãn cái thì sanh ra con gái? Nhưng thử hỏi: tại sao con gái lại khác hẳn con trai về vóc giạc, yểu điệu, mày liễu, má đào, môi son, răng trắng, giọng nói thanh tao, mái tóc đen huyền! Hoàn toàn bí mật.
Đứng riêng một mình mà nói thì vật chất không có quyền năng sanh hóa. Nó chỉ là dụng cụ của tinh thần mà thôi.
Phải mở thần nhãn, ngày đêm theo dõi công việc của Sứ giả và các Tiểu thần mới biết sự thật là thế nào. Người mới có thần nhãn, chưa kinh nghiệm, thấy Sứ giả như con búp bê ở trong lòng người mẹ, thì ngỡ là Linh hồn của đứa nhỏ.
Thường thường Sứ giả ở với đứa nhỏ 7 năm, nhiệm vụ của nó xong rồi thì nó hết sanh lực, nó tan mất. Chừng đó Linh hồn mới bắt đầu điều khiển xác thân và ở luôn trong mình đứa nhỏ, chớ trước đó, nó cứ nhập vô rồi xuất ra.
CÁI PHÁCH LÀ THỂ TỐI QUAN TRỌNG.
Cái Phách là thể tối quan trọng, bởi vì cái óc, các dây thần kinh và tất cả những cơ quan trong mình đều tùy thuộc cái Phách. Nếu cái Phách mảnh mai thì cái óc và các dây thần kinh đều mảnh mai, nếu cái Phách thô kệch thì thần kinh hệ và mấy bộ phận kia cũng thô kệch vậy.
Những sự thâu nhận của ngũ quan đều phải qua cái Phách, rồi cái Vía, mới tới cái Trí, và sự nhận thức của cái Trí cũng phải qua cái Vía, cái Phách rồi mới tới cái óc xác thịt.
Người nào có cái Phách mảnh mai thì học hỏi mau thông, và sẽ trình bày sự hiểu biết của mình một cách dễ dàng và rành rẽ, cũng như ánh sáng mặt trời dọi qua một tấm kiếng trong trẻo vậy. Trái lại, nếu cái Phách to sớ thì con người học hỏi chậm chạp, tục gọi là tối dạ, một bài học năm sáu bận mà chưa thuộc và một kinh nghiệm phải tái diễn nhiều lần mới lãnh hội được. Nói một cách khoa học, cái Phách mảnh mai mới ứng đáp được với những sự rung động mau lẹ, từ mấy cõi cao đưa xuống hay là từ cõi trần đưa lên. Nếu những sự rung động nầy xuyên qua một cái Phách thô kệch thì không có sự ứng đáp nào cả đặng truyền qua cái óc xác thịt, nghĩa là con người không nhận thức được cái chi hết.
SỨ GIẢ CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG LẤY CHẤT DĨ THÁI NÀO MÀ LÀM RA CÁI PHÁCH CỦA THAI NHI.
Ta biết rằng: cái Phách làm bằng chất dĩ thái hồng trần (éther physique).
Muốn làm cái Phách của thai nhi, Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương phải lấy chất dĩ thái trong cái Phách của cha mẹ. Tuy nhiên, Sứ giả phải coi theo lằn rung động ghi trong hột Lưu tánh nguyên tử, cũng gọi là Nguyên tử trường tồn của xác thịt (atome permanent physique) kiếp trước do Linh hồn đem theo mình trong kiếp nầy, đặng lựa phẩm chất của dĩ thái, hoặc tốt hoặc vừa vừa hoặc tầm thường, cho đúng với nhân quả của đứa bé. Nếu trong cái Phách của người mẹ chứa toàn là chất dĩ thái tốt, Sứ giả bị bắt buộc phải dùng chất dĩ thái tốt đó, mặc dầu trong nhân quả của đứa nhỏ chỉ ghi những chất tầm thường mà thôi.
Trái lại, nếu trong cái Phách của cha mẹ chứa toàn là những chất dĩ thái tầm thường thì dầu cho Sứ giả muốn tìm những chất dĩ thái tốt đi nữa, cho đúng với căn quả thì không biết phải làm thế nào, chung cuộc cũng bị bắt buộc phải dùng những chất tầm thường đó.
CÁI CHI CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI HÌNH TƯ TƯỞNG CỦA TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG.
Hình tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương chịu hai ảnh hưởng: một cái trực tiếp, một cái gián tiếp.
a.- Ảnh hưởng trực tiếp.
Ảnh hưởng trực tiếp do cha mẹ của hài nhi gây ra, nhứt là người mẹ. Một cơn nổi nóng thoáng qua, một ý muốn quấy quá, một tư tưởng hèn hạ, một phút dục tình sôi nổi, một cơn sợ hãi, buồn bực, và nhứt là sự giao hiệp cũng đủ gây ra sự rối loạn của Hình tư tưởng nầy. Nó nhảy ra khỏi vòng của nó đương xây dựng, nó sẽ trở lại khi hết cơn sóng gió, nhưng công việc của nó cũng bị trở ngại một phần nào rồi.
b.- Ảnh hưởng gián tiếp.
Ấy là quả chung (cộng nghiệp) của gia đình, xã hội, quốc gia, chủng tộc, như ảnh hưởng thuộc về đời sống tổng quát của dân chúng, những sự khuyết điểm của đồng bào, những truyền thống xã hội, tôn giáo, chánh trị v.v… Đó là những luồng sóng thanh khí ầm ầm nổi dậy, ngày đêm đánh vào bờ bến của đời sống thế gian, không nghỉ, không ngừng.
Ít ai biết rằng: trước khi con người sanh ra, và sau khi mở mắt chào đời, những hiệu quả đó đã ghi vào thân thể mình rồi và án mắt mình, không cho thấy sự thật, cũng như mang kiếng màu mà xem cảnh vật vậy.
THAI GIÁO LÀ PHƯƠNG PHÁP CẢI THIỆN PHẦN SỐ CỦA HÀI NHI.
Hiểu được vai tuồng trọng hệ của cái Phách, những điều có ảnh hưởng tới Hình tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương thì ta có thể tránh được những tai hại cho nòi giống, và tạo được hạnh phúc cho con cái của mình.
Thuở xưa, các bực tiền bối thông hiểu đạo lý nên bày ra: Phương pháp Thai giáo để cải thiện được số mạng của hài nhi phần nào.
Thai giáo gồm hai phương diện:
Một là: Phương diện vật chất.
Hai là: Phương diện tinh thần
a/ Phương diện vật chất.
1.- Cữ giao hiệp-
Trước nhứt là cữ giao hiệp. Khi người phụ nữ biết mình có thai rồi thì nên chấm dứt sự giao hiệp. Nếu không được một cách tuyệt đối thì cũng nên hạn chế, ít chừng nào tốt chừng nấy, đặng tránh sự động thai, hay là hư thai, làm hư hỏng công việc của Sứ giả của Tứ Đại Thiên Vương.
Ngày nay, trên mặt địa cầu, dám chắc chỉ có một giống dân tộc thật hiện được việc cữ giao hiệp khi người phụ nữ mang thai mà thôi. Ấy là những người Hounza, khỏe mạnh nhứt thế giới, giữ đúng phép vệ sanh, không đau ốm và trường thọ, không có giống dân nào bì kịp mặc dầu là rất văn minh tiến bộ.
NGƯỜI HUNG ZA
Người Hung Za (Hounza) là một giống dân tộc có lẽ thuộc về giống A ri den (Aryen), giống thứ năm, là giống da trắng, ở phía Bắc xứ Cachemire, trên núi cao từ 1600 tới 2500 thước, quanh năm tuyết phủ và thuộc về miền nam cao nguyên Pamir. Họ sống lâu năm, rất khỏe mạnh, trọn đời không bịnh hoạn. Tánh họ rất vui vẻ, thuận hòa, siêng năng, sạch sẽ, rộng rãi, kiên nhẫn và dường như họ không biết mệt nhọc và sợ hãi là sao. Trong các cuộc hành trình không có một khó khăn nào có thể làm cho họ thốt lời than phiền, hay chấp nhận một sự viện trợ nào. Họ mang gánh nặng đồ vật trên vai thế mà họ nhanh nhẹn như con beo, leo mau trên vách đá thẳng đứng của sườn núi.
Đi gấp rút từ Baltit, thủ đô xứ Hounza, tới Gilgit đồn Anh gần hơn hết, cách nhau 100 cây số, trải qua những đèo, đặng đem tin tức rồi trở về liền; chạy tức tốc tới Taschkougan bên Tây Tạng, cách đó 230 cây số trở về một mạch, trải qua những con đường mòn dốc thẳng xuống và những đèo cao, về tới nhà trầm tĩnh và nhẹ nhàng như lúc mới ra đi, đối với những người Hung Za, những thành tích như thế là tầm thường.
Nói tóm lại họ đủ các tánh tốt của đời văn mình tối cổ và người văn minh hiện kim rất thèm thuồng và chưa được như ý nguyện.
Xin xem thử vài việc mà hiện giờ khắp hoàn cầu chưa dân tộc nào làm được.
“… Một khi thiếu phụ biết mình có thai rồi thì liền từ giã gia đình ở chung với bọn đàn bà con nít, còn anh chồng thì đến ở đậu với những trai chưa vợ. tới chừng nào đứa con thôi bú; vợ chồng mới hiệp nhau như trước. Theo tục lệ thì đứa con trai ba năm mới dứt sữa, còn con gái thì hai năm; nếu đứa kế đó sanh ra trước hai hay ba năm và nó giành sữa với anh hay chị nó thì người ta chê bai nhục nhã rằng nó là đứa con ngoại tình và người ta khinh khi cặp vợ chồng đó.
Đứa nhỏ được hai tuổi thì nó biết đi, người ta giao nó cho anh hay chị lớn hơn nó hai ba tuổi, đai nó trên lưng và coi sóc nó. Nếu là đứa con đầu lòng thì anh em cô cậu hay chú bác giữ dùm. Tới bốn tuổi, đứa trẻ được tự do, anh em trong nhà luôn luôn hòa thuận với nhau không hề có việc cãi cọ, rầy rà hay là gây gổ nhau.
Không có ai phạm tội ngoại tình hay tà dâm. Cũng không có trộm cướp. Thật là thuần phong mỹ tục. Họ cũng có vua và quan vậy nhưng không hề nghe nói dân chúng thán oán. Xứ họ mới thiệt là cõi thiên đàng tại thế.”
2.- Chọn lựa thực phẩm và thuốc men-
Xác thân và cái Phách thanh hay trược, tùy thuộc thức ăn uống và quan trọng nhứt là tình cảm và tư tưởng. Trường chay được thì tốt, bằng không thì bỏ thịt cá và ăn rau cải, gạo lứt, muối hột, cữ những món cay nóng, độc địa.
Phải hoạt động hằng ngày, nhưng đừng làm những công việc nào nặng nhọc quá sức, chớ nên nhón gót với lên cao. Phải cẩn thận trong lúc đi đứng.
Có thai từ ba tháng sắp lên nên dùng thuốc tễ dưỡng thai. Thang Thập nhị hay Thập tam Thái bảo của Tàu rất hiệu nghiệm. Dùng đúng sức thuốc thì chừng lâm bồn mau lẹ, ít đau bụng, đứa nhỏ sanh ra mạnh dạn.
Thuốc Tây cũng rất hay. Tùy phương tiện. Nhưng dầu sao, khi dứt uống thuốc hay chích thuốc Tây thì nên dùng thuốc Bắc. Hiệu quả chắc chắn.
b/ Phương diện tinh thần.
Phần tinh thần nầy thật tối quan hệ. Ấy là tình cảm phải trong sạch, tư tưởng phải thanh cao. Nói cho đúng phép, người đàn bà có thai phải ở trong một hoàn cảnh tốt đẹp, vui tươi, không có một mảy bợn nhơ xen vào. Trước mặt không thấy những cảnh tượng hãi hùng, gớm ghiếc, thương luân bại lý, bên tai không nghe những tiếng thô lỗ, cộc cằn, tục tĩu, rủa sả, chưởi mắng…
Trong lòng người mẹ phải luôn luôn vui vẻ và chứa những ý tưởng nhơn từ, đừng bao giờ nóng nảy phiền hà. Mỗi ngày nên mỗi đọc những sách Luân lý Đạo đức, xem những chuyện trung, hiếu, tiết, nghĩa.
Giữ được như thế thì lẽ tự nhiên, trừ một vài trường hợp bất khả kháng, đứa nhỏ sanh ra phải xinh đẹp, khôn ngoan, tánh tình rất tốt, dầu sao cũng hơn mức trung bình rất xa.
PHONG TỤC BÊN ẤN ĐỘ THUỞ XƯA
Thuở xưa, bắt đầu từ khi người đàn bà có thai cho tới trước ngày sanh, bên Ấn Độ, người ta có tục lệ bày ra những cuộc cúng kiến và đọc những bài kinh, những câu thần chú, khi trầm khi bổng, nghe rất êm tai, để nâng cao tâm hồn người mẹ và giúp cho Hình tư tưởng của Tứ Đại Thiên Vương làm cái Phách của đứa nhỏ cho thật tốt.
Ngày nay tục lệ đó lần lần tiêu mất hết rồi. Đáng tiếc lắm vậy.
Người không học Đạo cho mấy việc nầy là dị đoan, điên rồ, chớ đâu có ngờ rằng: Người xưa thông hiểu Luật Trời và áp dụng nguyên tắc “mỗi tiếng rung động đều làm thay đổi tâm hồn” đặng sửa đổi phần nào số mạng của đứa nhỏ được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Dưới đây là hai câu chuyện để chứng minh rằng tư tưởng có ảnh hưởng rất lớn đối với bào thai.
I: Cô Ruth J. Wild có một đứa con gái được giải thưởng trong một cuộc đấu sắc đẹp có nhiều cô gái nhan sắc tuyệt trần đến dự, thuật lại chuyện cô như vầy:
“Trước khi sanh nở ra, tôi trải qua một thời kỳ khó khăn và đau khổ. Tôi ở lẻ loi một mình, nhưng mà tôi nhứt định, đứa con của tôi sanh ra phải tuyệt đẹp.
Tôi thường đến viếng Bảo tàng viện Brooklyn, ngồi ngắm nghía tượng Nữ Thần Vénus và thần Adonis. Luôn luôn tôi đem theo mình cái bìa của một tờ tạp chí có một đầu hình rất đẹp, do nhà mỹ thuật Boileau vẽ ra, và trong trí tôi luôn luôn hình dung đứa con của tôi sẽ sanh ra.
Tới kỳ tôi nằm chỗ thì tôi sanh ra một đứa con gái và quả nhiên, cái điều tôi mơ mộng và ước ao đã thành sự thật; nó đã làm ra một đứa nhỏ đẹp nhứt trên đời.
Tới kỳ tôi nằm chỗ thì tôi sanh ra một đứa con gái và quả nhiên, cái điều tôi mơ mộng và ước ao đã thành sự thật; nó đã làm ra một đứa nhỏ đẹp nhứt trên đời.
Mấy vị Bác Sĩ tuyên bố rằng: từ đó đến giờ chưa thấy một đứa bé nào như nó. Có một vị biết tôi nghèo khổ nên chịu cho tôi 20 ngàn đô la đặng bắt lấy nó. Nhưng dầu cho đem hết vàng bạc trên thế gian đặng bắt lấy nó, tôi cũng chẳng chịu. Tôi biết tôi đã thành công. Tôi thấy gương mặt nó giống hệt bức tranh của nhà mỹ thuật Boileau, còn hình vóc nó un đúc theo những lằn đẹp của những thần tượng mà tôi đã thường ngắm.”
II: Trường hợp thứ nhì là chuyện của cô Virginia Knapp. Cô có một đứa con gái tên Dorothée, được giải thưởng Nữ thần Vénus Mỹ châu, trong một cuộc đấu sắc đẹp tại Madison Square Garden.
Cô nói: “Trong khi có thai, tôi rất thích chú ý đến những sắc đẹp thiên nhiên và tôi thường năn nỉ cảnh vật cho con tôi được một phần cái đẹp của Tạo Hóa. Tôi dám chắc con tôi dung mạo đẹp đẽ là nhờ ý chí cương quyết của tôi, trước khi sanh nó ra, chớ không phải tại dòng giống.”
Cũng vì mấy lẽ trên đây mà mấy bà mẹ Hi Lạp thuở xưa, có thói quen, thường ngày ngắm những hình tượng xinh đẹp và mấy ông già bà cả của chúng ta thường dặn con cháu gái: “Một khi mang con vào dạ thì phải đi đứng ngay thẳng, lời nói phải thanh bai, không nên đi xem hát bội vì sợ thấy tướng Phiên, mặt mày vằn vện đâm ra sợ hãi, rồi sau sanh con ra diện mạo xấu xa”. Thật đúng vậy.
SỬA ĐỔI SỐ MẠNG CỦA NHỮNG TRẺ TỪ LÚC MỚI LỌT LÒNG CHO TỚI KHI LỚN KHÔN BẰNG CÁCH GIÁO DỤC THEO PHƯƠNG PHÁP ĐẠO ĐỨC
Phải săn sóc và nuôi dưỡng hài nhi một cách hết sức kỹ lưỡng, cho thật đúng phép vệ sanh và nhứt là hết lòng thương yêu nó.
Chớ nên lầm tưởng đứa nhỏ mới sanh ra là một tờ giấy trắng tinh, muốn viết chữ nào hay vẽ hình chi cũng được. Nó đã có không biết bao nhiêu tiền kiếp, mỗi khi tái sanh, nó đều đem theo mình mầm mống của những tánh của nó đã rèn luyện trong những kiếp quá khứ, tốt có, xấu có. Nếu nó gặp hoàn cảnh tốt đẹp, nghĩa là từ cha mẹ đến anh em trong nhà đều hiền lương, tư tưởng và tình cảm thanh cao thì ảnh hưởng nầy cảm đến mầm mống của những tánh tốt, làm cho chúng nở nang mau lẹ; những mầm của tánh xấu không có đồ ăn thì phải héo mòn: lần lần rồi tiêu mất.
Phải giáo dục nó theo phương pháp Đạo đức, từ trong lời nói, từ trong cử chỉ, từ trong cuộc chơi, một cách ngon ngọt dịu dàng, thì lớn lên nó sẽ thành ra một người tốt lành, dầu không phải là một bực vĩ nhơn, chớ cũng tiến hóa hơn người thường rất nhiều.
Trái lại, nếu chung quanh đứa nhỏ toàn là những người nóng nảy, giận hờn, tham lam, ích kỷ, đắm mê vật dục thì những tư tưởng và tình cảm xấu xa nầy nuôi dưỡng mầm mống các tánh xấu, cho chúng nó đâm chối nảy tược mau lẹ, còn mầm mống của các tánh tốt bị hao mòn. Lớn lên đứa nhỏ sẽ hư thân mất nết, bị những trận cuồng phong của cuộc đời lôi cuốn, chưa ắt có những dịp may hay cơ hội tốt để trở lại con đường quang minh chánh đại một cách dễ dàng.
Nói một cách khác, cái Trí và cái Vía của trẻ thơ thu hút những tư tưởng và những tình cảm, bất cứ loại nào, cũng như bông đá hút nước. Vậy chớ nên cho trẻ con lân la với những đứa thất giáo, chúng sẽ nhiễm những thói hư tật xấu một cách mau lẹ, sau khó mà sửa chữa lắm. Dầu cho có cải thiện được cũng phải mất một thời gian khá lâu trên cả chục năm.
Điều hay hơn hết là trong khoảng từ một đến mười bốn tuổi, đứa trẻ nên được ở vào một hoàn cảnh, không phải là Thần Tiên, nhưng mà tương đối là thanh tịnh, trong bầu không khí tốt đẹp, vui vẻ thuận hòa.
Nhưng tiếc thay, vì đời sống quay cuồng của xã hội hiện tại, thật là không dễ mà tìm được một chỗ như ý nguyện; tuy nhiên, ta cứ cố gắng tạo ra một khung cảnh thuận tiện cho sự tiến hóa của trẻ thơ, được điều nào hay điều nấy.
B. QUẢ TÍCH TRỮ.
Từ khi thoát kiếp thú đầu thai làm người lần đầu tiên cho tới bây giờ, trong kiếp nầy, con người gây ra không biết bao nhiêu Quả, nhưng dám chắc là dữ nhiều lành ít, bởi vì chúng ta còn vô minh.
Nếu Thiên đình bắt ta phải trả một lần một những quả xấu đó thì chắc chắn xác thân ta chịu đựng không nổi, nó phải chết trước ngày giờ đã định. Hơn nữa có nhiều thứ quả cần phải có nhiều xác thân khác nhau và hợp với nó mới trả được.
Ngoài ra, mỗi người trong chúng ta, ở những kiếp quá khứ đã gây ra những quả báo, xấu có, tốt có, với cả trăm, cả ngàn người khác mà họ không phải đi đầu thai một lượt với chúng ta. Có người xuống trần trước và đã qui thần khi chúng ta mới mở mắt chào đời. Có người còn ở cõi Trung giới hay cõi Thượng giới, chưa trở lại thế gian. Có người sanh ra đồng thời với chúng ta song ở nước khác, cách xa cả chục ngàn cây số, trọn đời không hề gặp nhau.
Chúng ta cũng nên biết rằng: Dầu đối diện với nhau Mà Chưa Đúng Ngày Giờ Trả Quả, thì cũng không có việc thanh toán những mối nợ nần cũ đâu.
Thế nên, trong mỗi kiếp chúng ta chỉ trả một số ít quả cũ vừa sức ta, tùy theo trình độ tiến hóa của ta và đồng thời ta còn tạo thêm những quả mới khác nữa.
Vì vậy luôn luôn có Quả Tích trữ. Tới chừng nào ta sắp bước vào cửa Đạo thì ta mới được nhồi quả.
Sau khi đệ tử được ba lần điểm đạo, làm một vị A na hàm (Anagamin) hay là được 4 lần điểm đạo làm một vị La Hán (Arhat) tùy theo trường hợp riêng biệt của mỗi người, thì phải trả cho sạch những Quả Tích trữ còn lại. Rồi từ đó mới nhẹ mình đặng mau bước tới mục đích cuối cùng là được 5 lần điểm đạo làm một vị A sơ ca, toàn giác, toàn năng và toàn thiện, không còn học hỏi cái chi trên dải địa cầu nầy nữa.
Vị A sơ ca đã qua hàng Siêu phàm và còn lo tiến hóa thêm mãi.
C. QUẢ ĐƯƠNG TẠO.
Quả đương tạo là những quả của ta gây nên ở kiếp nầy do tự do ý chí của ta.
Ba nguyên nhân gây ra quả đương tạo là:
1/- Tư tưởng;
2/- Ý muốn và Tình cảm;
3/- Lời nói và việc làm.
Những quả nầy có ảnh hưởng rất lớn, chúng có thể sửa đổi số phần của ta kiếp nầy và chỉ định số phần của ta kiếp sau nữa. Thế nên ta cần phải hiểu rõ hiệu quả của chúng, vì chính là mỗi người trong chúng ta đều cầm số mạng của mình trong tay.
1/- Tư tưởng.
Tư tưởng con người có hình dạng và màu sắc. Màu sắc nầy tốt đẹp hay xấu xa tùy theo bản tánh của tư tưởng hiền lành hay hung dữ. Hình tư tưởng là một sanh vật, nó cũng mạnh, cũng yếu, cũng sống lâu, cũng thác yểu, cũng khôn ngoan, cũng quỉ quyệt; nói tóm lại con người có tánh nào thì Hình tư tưởng có tánh đó. Nó vâng theo ý muốn của con người sanh ra nó và nó rất trung thành. Bảo nó làm cái chi thì nó làm cái đó, không hề từ chối, không hề sai chạy. Tội hay phước về phần chủ nó chịu, chớ nó không lãnh một trách nhiệm gì cả.
Tư tưởng có ảnh hưởng to tát đối với sự tiến hóa hay là sự thoái hóa của con người và kiếp số của dân chúng trên địa cầu mà ít ai hiểu và cũng ít ai tin. Bây giờ ta hãy xem xét coi tư tưởng xấu và tư tưởng tốt làm hại và làm lợi như thế nào.
Sự hại của tư tưởng xấu
a/- Ta hại ta trước hết.
Một tư tưởng xấu nảy sanh trong trí ta thì cái hiệu quả của nó ra sao?
Trước hết tư tưởng xấu vừa bay lên trên không trung thì liền đó cái Trí ta rút những tư tưởng xấu đồng bản tánh với nó vô, làm cho một phần chất khí tốt của nó bay ra ngoài nhường chỗ cho chất khí xấu tới thay thế.
Nếu ngày nầy qua ngày nọ, trí ta chứa đầy chất khí xấu thì màu sắc của nó tối thui. Người có mắt Thánh dòm vô sẽ thấy một cảnh tượng đau thương buồn bực.
Những chất khí đó còn làm ra một cái vỏ thành kiến khiến cho ta chỉ thấy chỗ xấu của người khác hay là tật hư nào đó. Thành kiến nầy che khuất ánh sáng Chơn lý cho nên sự xét đoán của ta rất sai lầm, không đúng với thật tế, mà trái lại ta cứ tự đắc là ta hay, ta giỏi hơn người.
Như thế ta hại ta trước hết.
b/- Ta gây tai hại cho những người ở chung quanh.
Tư tưởng xấu của ta đi đâu? Nó vô trí của những người ở chung quanh ta, nó ở trong trí của người nầy vài phút rồi qua trí của người kia và mỗi lần nó tạm ghé vào trí của ai thì nó xúi trí của người đó sanh ra một tư tưởng xấu như nó vậy.
Rồi thì 4 giai đoạn xảy ra:
Một là: Người đó thêm sức cho nó trở nên mạnh mẽ hơn trước rồi thả nó ra đặng nó đi phá hại kẻ khác;
Hai là: Tấn tuồng diễn ra lúc trước sẽ lặp lại, nghĩa là trí của y sẽ rút những tư tưởng xấu khác đồng bản tánh vô và một phần chất khí tốt trong trí y bay ra ngoài;
Ba là: Tư tưởng xấu của y sanh ra còn đi khuấy rối kẻ khác nữa, rồi cứ như thế tiếp tục mãi ngày nầy qua ngày kia, năm nầy qua năm nọ.
Bốn là: Nhưng cái tai hại không phải bao nhiêu đó mà thôi đâu. Nếu trong lòng người bị nhiễm có tánh xấu như ta đã tưởng thì tư tưởng của ta tăng sức mạnh cho tánh xấu đó làm cho người bị nhiễm càng ngày càng xấu thêm.
Trái lại, người bị nhiễm không có tánh xấu như ta tưởng thì tư tưởng của ta rán tạo cho y có tánh xấu đó.
Chúng ta không phải là những bậc Thánh nhơn, Hiền triết, cho nên trong lòng còn chất chứa những mầm của tật hư nết xấu.
Nếu không có những tư tưởng xấu tới đánh thức chúng nó thì lâu ngày chúng nó sẽ héo mòn rồi lần lần tiêu mất, kiếp sau không trở lại nữa. Trái lại nếu chúng nó bị những tư tưởng ở ngoài vô kích thích, không khác nào vun phân tưới nước thì chúng nó bắt đầu sống dậy rồi càng ngày càng trở nên mạnh mẽ; điều nầy cũng như than vùi dưới đống tro tàn chưa tắt hẳn, gặp đồ bổi thì nó phát cháy bừng lên. Chúng nó làm hại con người chẳng phải nội một kiếp mà còn tới kiếp sau nữa.
Tôi xin đem một thí dụ cho quí bạn xem:
Một người kia cố oán, muốn trả thù cho đã nư giận, nhưng y chưa kịp hành động. Nếu trong lúc đó ai lại khuyên can y, dùng lời hơn lẽ thiệt nói cho y nghe thì chắc chắn y sẽ bỏ ý định trả thù hay là giảm bớt sự hành hung. Trái lại nếu trong lúc đó có một tư tưởng phục thù khác xông vô trí y thêm sức mạnh cho ý muốn của y, tức thì y hành động liền không còn ngày giờ suy nghĩ kịp nữa. Rồi thì có án mạng hay là thương tích xảy ra, câu chuyện thương tâm nầy kéo dài không biết tới mấy kiếp mới dứt tuyệt.
Biết như vầy mới thấy câu “Oan gia nên gỡ không nên kết” và “ Lấy oán báo oán, cái oán chẳng dứt” rất đúng. Tục nói: “Đừng cầm dao dá, sợ quỉ giục chém bất tử.”
Không phải là chuyện dị đoan đâu, lời nầy rất hữu lý. “Quỉ” đây là tư tưởng ác tới xúi.
Bây giờ ta hãy thử nghĩ: ngày nầy qua ngày nọ, nhân nầy sanh ra quả kia, rồi quả kia thành ra nhân nọ, cứ nối tiếp nhau mãi, thì một tư tưởng xấu mà ta cho là chuyện nhỏ mọn, mảy mún không đáng kể chẳng cần quan tâm đến, không bao lâu sẽ thành ra một tai họa lớn lao cho đời.
Cũng vì vô minh mà thiên hạ mỗi ngày rải lên trên không trung cả chục ngàn triệu hình tư tưởng mà có lẽ tới 98 phần trăm là những tư tưởng xấu xa, ích kỷ, thì lẽ tự nhiên sự đau khổ của con người chưa biết tới chừng nào mới tiêu tan.
c/- Cái tai hại thứ ba là ta thêm một sự đau khổ cho đời khi ta sanh ra một tư tưởng xấu.
Ta nên biết những tư tưởng đồng bản tánh thì hiệp lại với nhau và làm ra một Hình Tư Tưởng rất lớn, ấy là một hình Liên Hiệp Tư Tưởng, pháp môn đặt tên là Egrégore.
Trên không trung có không biết bao nhiêu hình Liên Hiệp Tư Tưởng, tốt có, xấu có, lành có, dữ có. Nói tóm lại, hễ con người có bao nhiêu tánh tốt và tánh xấu thì có bao nhiêu hình Liên Hiệp Tư Tưởng. Những hình Liên Hiệp rất mạnh mẽ, sống lâu, cũng khôn ngoan và quỉ quyệt vậy. Có nhiều hình Liên Hiệp Tư Tưởng sống tới cả muôn cả ngàn năm rồi. Những hình Liên Hiệp Tư Tưởng xấu xa là những vị Hung Thần, thường gieo tai họa cho đời, gây ra những chiến tranh giặc giã và làm cho đất sụp, nước dâng, đồng khô cỏ cháy, dân chúng đói rét lầm than, mắc nhiều chứng bịnh hiểm nghèo lạ lùng sanh ra bất ngờ, thình lình.
Đó không phải là Trời gieo tai họa cho con người, mà chính là con người tự chuốc lấy cái đau khổ cho mình và đây là cội rễ của Cộng Nghiệp mà tôi sẽ giải tới:
Thật là: “Có Trời mà cũng có ta
Tu là cội phúc…”
Tu là cội phúc…”
Trái lại, những hình Liên Hiệp Tư Tưởng lành là những vị Phúc Thần hằng ban ân huệ cho đời, giúp con người cải ác tùng thiện và mau bước tới cửa Đạo.
Cõi Trần đã bị những hình Liên hiệp Tư tưởng xấu xa phá hoại rồi, bây giờ ta sanh thêm một tư tưởng xấu nữa, không khác nào lửa đương cháy phừng phừng mà ta cứ thảy củi vô mãi thì tới bao giờ nó mới tắt.
Quả thật, mỗi lần ta sanh ra một tư tưởng xấu, tức là ta thêm một sự khổ cho đời.
Giá trị của tư tưởng lành.
Tư tưởng ác làm hại bao nhiêu thì tư tưởng lành lại làm lợi bấy nhiêu, nhưng mà thường thường hiệu quả của một tư tưởng lành mạnh gấp mười lần và tùy theo thứ tự, cả trăm, cả ngàn lần cho tới cả triệu lần một tư tưởng xấu, bởi vì tư tưởng tốt hành động ở trên mấy cảnh cao siêu, còn tư tưởng xấu hoạt động ở mấy cảnh thấp thỏi.
Mỗi lần ta sanh ra một tư tưởng lành, ta làm được ba việc ích lợi một lượt.
1.-Trước nhứt là ta tập cho cái trí của ta thanh cao.
Trái với lúc ta tưởng quấy, mỗi lần ta tưởng tới một điều lành, thì cái trí ta rút những tư tưởng lành khác đồng bản tánh với nó và đồng thời một phần chất khí xấu trong trí ta bay ra để nhường chỗ cho chất khí tốt ở ngoài vô thay thế.
Cách xua đuổi một tư tưởng xấu.
Lúc mới tập luyện, cái trí còn lau chau cho nên nó bị nhiều tư tưởng xấu xâm nhập vô. Ta phải xua đuổi chúng nó ra lập tức. Nói thì nghe dễ quá, nhưng nếu không biết phương pháp thực hành thì đó là một điều cực kỳ khó khăn.
Thí dụ có một việc làm cho ta nổi nóng. Nếu ta nói: “Tôi không nổi nóng, tôi không nổi nóng”, cả trăm lần như vậy, ta cũng không hết nóng giận. Mà lại còn thấy mệt ngất nữa vì ta ra sức chống chỏi với tánh xấu. Ta sẽ thấy ta bất lực.
Phải nói như vầy: “Tôi vui vẻ và ôn hòa” và nhớ tới tánh vui vẻ và ôn hòa! Ta nói vài ba lần như vậy thì ta không còn nóng giận nữa. Tư tưởng nóng giận bị tư tưởng vui vẻ và ôn hòa đuổi ta khỏi trí mà ta không phí sức nữa. Cái nguyên tắc đó như vầy: Dùng tư tưởng tốt đối lập đặng chống chỏi với tư tưởng xấu thì ta sẽ thành công. Cái trí không thể chấp chứa hai tư tưởng một lượt.
Tôi xin kể ra đây vài tư tưởng đối lập với nhau:
1.- Tư tưởng chân chính ngay thật đối lập với tư tưởng xảo trá, gạt gẫm.
2.- Tư tưởng từ bi bác ái đối lập với tư tưởng hung dữ, ác nghiệt.
3.- Tư tưởng can đảm đối lập với tư tưởng nhát sợ.
4.- Tư tưởng vị tha đối lập với tư tưởng ích kỷ.
5.- Tư tưởng thanh khiết đối lập với tư tưởng ô trược.
6.- Tư tưởng khoan dung đối lập với tư tưởng gắt hiểm.
7.- Tư tưởng nhẫn nại đối lập với tư tưởng nản chí.
8.- Tư tưởng khiêm tốn đối lập với tư tưởng kiêu căng v.v…
Nếu mỗi ngày ta đều nuôi dưỡng tư tưởng từ bi bác ái, và những tư tưởng trong sạch chỉ trong 7- 8 năm như vậy thì cái trí chứa nhiều chất khí tốt, nó sẽ mở mang lớn ra và rất xinh đẹp. Hơn nữa ta còn dùng được một phần cao siêu của cái trí. Phần nầy chỉ có những tư tưởng thanh cao mới cảm đến được mà thôi.
2.- Ta giúp ích cho những người ở chung quanh ta.
Tư tưởng tốt của ta vô trí những người ở chung quanh khuyên họ sanh ra những tư tưởng tốt đồng bản tánh với nó, và khai mở những mầm của các tánh tốt còn tiềm tàng ở trong lòng họ. Nó cũng giúp họ bắt đầu dùng được một bộ phận mới mẻ của cái trí nữa. Họ sẽ thưởng thức được không biết bao nhiêu tư tưởng thanh cao mà xưa nay họ không ngờ là có. Rồi tới phiên họ, họ sẽ sanh ra những tư tưởng tốt khác để cảm hóa những người khác.
3.- Ta giúp đỡ cho đời bớt đau khổ.
Tư tưởng lành của ta còn nhập vô hình Liên hiệp Tư tưởng lành đồng bản tánh với nó và thêm sức mạnh cho Hình Tư tưởng nầy.
Hình Liên hiệp Tư tưởng là một vận hà để chuyển đi ánh sáng và thần lực ở mấy cõi trên xuống Hồng trần đặng làm giảm bớt sự đau khổ của con người.
2/- Quả báo của ý muốn và tình cảm.
Ý muốn và tình cảm cũng có hình dạng và màu sắc như Hình Tư tưởng. Chúng chia ra nhiều thứ, tốt có, xấu có. Quả của chúng gây ra cũng như quả của Tư Tưởng.
Thật ra ít có Hình Tư Tưởng thuần túy, hầu hết đều có pha trộn tình cảm và ý muốn vô trong.
3/- Quả báo của lời nói.
Các nhà Huyền bí học đều biết rằng: Vũ trụ nhờ âm thanh tạo ra. Thế nên tiếng nói có một uy lực phi thường. Đáng lẽ mỗi lời nói của ta thốt ra đều phải chơn chánh, dịu dàng và hữu ích, nếu không đủ ba điều kiện nầy thì tốt hơn là thầm lặng, nín thinh.
Chỉ vì con người không thông luật Trời cho nên không biết dùng lời nói cho đúng phép. Thô lỗ, cộc cằn, mắng nhiếc, rủa sả, nói hành, nói vu, hỗn láo, xấc xược thì gây ra những quả xấu cho thân thể của mình sau nầy.
Đọc sử sách ta vẫn thấy một lời nói có thể gây dựng giang san và một lời nói cũng có thể tan tành sự nghiệp.
Thuở xưa, trong một cổ miếu có hình một người bịt miệng ba lần. Đây người xưa có ý dạy chúng ta phải cẩn ngôn và cẩn hạnh một lượt. Tuy nhiên, bịt miệng chưa phải là đủ, có khi phải bịt luôn cả hai lỗ tai và hai con mắt nữa.
(Còn tiếp)
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011
Khuôn Vàng Thước Ngọc: Vài thí dụ về nhân quả (Bạch Liên)
The law of cause and effect (karma) is natural and scientific. Master its principle and one can master one's destiny.
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ NHÌ: VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ
Quí bạn thường nghe nói về Nhân Quả; song phần đông cho là chuyện viễn vông, xa vời không biết đâu mà tin, vì không thấy trước mặt như hai với hai là bốn.
Nhưng quí bạn hãy chịu khó suy nghĩ một chút thì thấy Nhân Quả là chuyện xảy ra hằng ngày, trong mình ta, trong nhà, ngoài đường và chỗ nào cũng có. Tôi xin kể vài thí dụ cho quí bạn nghe :
Một người kia trợt té, trầy đầu gối. Trợt té là nhân, trầy đầu gối là quả. Cầm một tách nước đổ trên bàn, cái bàn ướt. Đổ nước trên bàn là nhân, cái bàn ướt là quả. Siêng năng, cố gắng và biếng nhác là nhân; học giỏi, học dở là quả.
Cần kiệm thì dư giả, xài phá thì thiếu hụt. Cần kiệm và xài phá là nhân; dư giả, thiếu hụt là quả. Chưởi người, đánh người thì bị người chưởi lại, đánh lại. Chưởi người, đánh người là nhân; bị người chưởi lại, đánh lại là quả. Đồ ăn sanh ra máu huyết, xương thịt. Đồ ăn là nhân; máu huyết, xương thịt là quả. Trồng hường thì hường mọc lên, trồng đậu thì đậu mọc lên. Không khi nào gieo lúa mà mọc ớt bao giờ.
Luôn luôn có Nhân thì có Quả, nhưng có khi Quả tới mau hay chậm là tùy theo tánh cách và trường hợp của Nhân.
Cấy lúa thì tùy theo giống, ba tháng hay sáu tháng gặt được, còn trồng xoài, sáu bảy năm mới có trái, v.v…
Trong trời đất toàn là những cuộc tuần huờn do một dọc nhân và quả nối tiếp nhau, nhân nầy sanh ra quả kia, quả kia lại thành ra nhân nọ.
Trở lại thí dụ ta té trầy đầu gối; ta trầy đầu gối thì thân thể đau nhức. Trầy đầu gối khi trước là cái quả của cái té, mà bây giờ nó thành ra cái nhân, làm cho thân thể đau nhức thì ta ngủ không được. Cái quả thân thể đau nhức trở lại thành ra cái nhân làm cho ta mất ngủ.
Luật Nhân Quả mới nghe qua thì dễ hiểu, song thật sự nó cực kỳ khó khăn và vô cùng phức tạp, vì có những nguyên nhân do tư tưởng và ý muốn sanh ra cả chục kiếp trước nghĩa là sáu bảy ngàn năm rồi, chúng ta không tri ta được và dính liền với cả chục, cả trăm và cả muôn người khác nữa. Phải tu hành tới bực Chơn sư sắp lên mới rõ các chi tiết.
Luật Nhân Quả, luật Luân Hồi và luật Hy Sanh là ba luật rất quan trọng mà người học đạo phải biết một cách rành rẽ thì mới tiến mau. Ba luật nầy đều có liên quan mật thiết với nhau. Gây ra nhân lành hay dữ đều phải đầu thai đặng hưởng quả tốt hay quả xấu của mình đã tạo ra. Tới chừng nào người ta thật quên mình và hy sanh vì thương đời, không còn háo danh hay tư lợi nữa thì mới chặt được dây xiềng xích trói mình vào bánh xe luân hồi.
Thế nên biết được luật Nhân Quả dầu một cách tổng quát cũng nắm được số mạng mình trong tay, miễn là có chí khí và nhẫn nại sửa cách ăn thói ở của mình cho hạp với luật Trời, in theo những lời các vị giáo chủ dạy dỗ.
Sự khảo cứu về Nhân Quả chia ra làm sáu phần :
1) Nhân quả là luật Thiên nhiên
2) Cách gây ra Nhân quả
3) Các thứ Nhân quả
4) Ai định cách trả quả
5) Cách diệt Nhân quả
6) Những chuyện Nhân quả
1)- NHÂN QUẢ LÀ LUẬT THIÊN NHIÊN
Ta có thể nói rằng Nhân - Quả là luật Thiên nhiên, ở đâu cũng có nó, nó thâm nhập khắp nơi, không có loài nào tránh khỏi ảnh hưởng của nó.
Ta hãy xem một hiện tượng xảy ra. Hiện tượng nầy vừa là Quả, vừa là Nhân một lượt. Quả của một quá khứ và Nhân của một tương lai. Quả của quá khứ bởi vì có một nguyên nhân sanh nó ra, còn Nhân của tương lai bởi vì nó sanh ra một hiện tượng mới khác nữa.
Trong đời sự nối tiếp và sự liên lạc việc nầy với việc kia, người ta gọi là Luật Nhân Quả. Người ta gọi Luật căn bản, nhờ nó mới có trật tự, sự thăng bằng và tiến hóa của Nhân loại.
Trong trời đất, tất cả những hiện tượng xảy ra đều là những cuộc tuần huờn do một một dọc Nhân và Quả nối tiếp nhau, Nhân nầy sanh ra Quả kia, rồi Quả kia lại trở thành Nhân nọ. Nhân – Quả cứ tiếp tục từ Vũ trụ nầy qua Vũ trụ kia, từ Thái dương hệ nầy sang Thái dương hệ nọ; chớ không phải riêng gì dải Hành tinh, hay là kiếp sống của loài người và các loài khác mà thôi.
Các điều mà chúng ta gọi là Nhân – Quả hay là “Nghiệp” tiếng Phạn gọi là Cát ma (Karma). Karma có nghĩa là Hành động. Nhưng mà sự Hành động luôn luôn bao hàm sự Phản động. Vì vậy Karma có nghĩa là Động và Phản động một lượt. Sự Động và Phản động luôn luôn cân xứng với nhau và chống chỏi với nhau mãi.
Thí dụ: Ta lấy tay đập vào cái bàn thì tay ta bị dội lại. Sự dội lại là sự Phản động của cái bàn. Cầm trái banh liệng vào vách tường, nếu ta liệng nhẹ thì nó dội lại nhẹ, ta liệng mạnh thì nó dội lại mạnh.
Thế nào gọi là Luật Thiên nhiên?
Bây giờ ta nên hỏi: Luật Thiên nhiên là luật gì? Luật Thiên nhiên là một dọc Nhân Quả nối tiếp nhau theo thứ tự nhứt định và không đổi dời.
Thí dụ: Có A với B thì luôn có C theo một bên. Luật nầy không phải là một mạng lịnh, nó không bảo các ngài làm cái nầy, chớ không nên làm cái kia, hay là các ngài phải có A và B thì mới có C, mà nó lại nói: Nếu các ngài muốn có C thì phải hiệp A và B lại, hoặc nếu các ngài không muốn có C thì phải rán làm cho A dang xa B, hoặc nếu các ngài đem A cách xa B thì các ngài không có C.
Vì vậy ta có thể nói chắc chắn rằng Luật Thiên nhiên không phải là một luật bó buộc mà nó là một luật để giúp ta hành động cho đúng với Cơ Trời, nó dạy ta biết những điều kiện nào mà ta phải giữ nếu ta không muốn tạo thành hay là tránh xa một hiệu quả nhứt định.
Những Luật Thiên nhiên vốn bất di bất dịch và bất vi phản (inviolable). Nếu chúng nó đổi dời mãi thì không khoa học nào tồn tại được.
Không phải bữa nay khinh khí với dưỡng khí hiệp lại thành nước, rồi ngày mai hai thứ đó lại thành lửa; không phải bữa nay lửa nóng dữ dội rồi ngày mai nó lại lạnh như đồng, nếu bữa nay nước lỏng le rồi ngày mai nó đặc cứng thành nước đá là tại điều kiện của hoàn cảnh thay đổi. Bởi vậy tục ngữ Pháp có câu: “Biết thì làm được” (Savoir, c’est pouvoir).
Vì chưng dây Nhân Quả nối chằng chịt với nhau không thể tránh được cho nên người dốt nát phải bó tay chịu bất lực trước những Luật Thiên nhiên. Còn nhờ sự học hỏi rộng sâu ta thấu hiểu luật Trời thì ta dễ kiểm soát những động lực của ta sanh ra hầu tránh những kết quả không hay về sau nầy.
Luật Nhân Quả cắt nghĩa theo Khoa học
Vũ trụ là sự biểu hiện của khí lực. Khí lực có thể biến đổi ra điện, từ điện, nhiệt lực, ánh sáng v.v…
Mặt trời là một bầu khí lực lớn, còn điện tử là một bầu khí lực nhỏ. Kim thạch, thảo mộc, cầm thú hay là con người đều là những bầu khí lực, đây không phải là lời nói ngoa đâu, bởi vì xác thân của con người, thú vật, cây cỏ và kim thạch đều làm bằng những tế bào, mà mỗi tế bào đều do nhiều nguyên tử cấu thành.
Đem phân tích mỗi nguyên tử thì thấy:
a) Chính giữa là một hột gọi là nhân (noyau) chứa nhiều hột điện dương (dương điện tử - protons) và một số hột không chứa điện nào cả, gọi là trung hòa tử (neutrons);
b) Chung quanh nhân thì có những hột điện âm (âm điện tử - (électrons) xây tròn không khác nào những hành tinh xây quanh mặt trời. Chính giữa âm điện tử và nhân là khoảng trống không tuyệt đối. Ngày nay khoa học cho rằng vật chất tương đương với khí lực (matière – énergie) bởi vì khi khí lực hiện ra thì có một khối vật chất tiêu tan.
Sự biến đổi khí lực
Trong lúc ta ăn uống, dùng thuốc men thì ta thâu khí lực vô mình bởi vì đồ ăn hay thuốc men khi tiêu hóa thì biến thành máu huyết, xương thịt, hay là thêm sức mạnh cho ta.
Nếu ta dùng khí lực hay là sức mạnh nầy đặng làm những việc lành, việc phải, hữu ích cho đời thì ta gọi khí lực nầy tốt. Trái lại nếu ta dùng nó để làm việc dữ gây ra những sự khổ não cho đời thì người ta gọi khí lực nầy xấu. Thật sự khí lực nầy không tốt mà cũng không xấu, chỉ tại cách ta sử dụng nó thôi, cũng như điện, để đốt đèn, để nấu ăn, để chạy máy đều được mà dùng để giết người cũng được nữa.
Làm mất sự thăng bằng của Vũ trụ
Trọn đời, con người là một cái máy biến điện, nó thâu khí lực vô mình rồi biến đổi ra việc lành hay việc dữ.
Nhưng ta nên biết chung quanh cõi Hữu hình mà ta gọi là cõi Trần đây còn 6 thế giới khác nữa mà con mắt ta không thấy được, bởi vì nó làm bằng những chất khí, càng lên cao thì càng mảnh mai và càng tốt đẹp hơn chất khí làm ra cõi Trần nhiều lắm.
Bởi không thấy được nên tạm gọi chúng nó là cõi Vô hình.
Những thế giới Vô hình nầy bắt dưới kể lên thì là như vầy:
1/ Cõi thứ sáu là thế giới Tình cảm hay cõi Dục giới, cũng gọi là Trung giới (Plan astral).
2/ Cõi thứ năm là thế giới Tư tưởng hay là cõi Thượng giới, cõi Thiên đường hay là cõi Trí tuệ (Plan mental).
3/ Cõi thứ tư là thế giới Trực giác hay là cõi Bồ đề (Plan Bouddhique).
4/ Cõi thứ ba là thế giới Thiêng liêng hay là cõi Niết Bàn (Plan Nirvanique ou Nirvana).
5/ Cõi thứ nhì là thế giới Đại Thiêng liêng hay là cõi Đại Niết Bàn (Plan Paranirvanique ou Paranirvana).
6/ Cõi thứ nhứt là thế giới Tối Đại Thiêng liêng hay là cõi Tối Đại Niết Bàn (Plan Mahaparanirvanique ou Mahaparanirvana).
Sáu thế giới nầy cộng với cõi Trần là 7 cõi. 7 thế giới nầy thâm nhập với nhau và liên quan mật thiết với nhau.
Bây giờ đây thí dụ ta đấm trên không một cái. Quả đấm của ta không đụng tới ai cả, nhưng khi ta giơ tay đấm thì ta phóng ra một lực lượng đụng tới những lực lượng khác trong vũ trụ làm cho mất sự thăng bằng của chúng nó.
Ta nên biết rằng trong trời đất vạn vật đều tuân theo luật thăng bằng và luật điều hòa. Nếu có cái chi làm chinh sự thăng bằng và sự điều hòa thì sự vật phản động đặng lập lại sự quân bình như trước. Ấy là thuyết “thế lực quân hoành” (Equilibre des forces) của khoa học và nhờ vậy mà toàn thể khí lực không bao giờ mất.
Trở lại câu chuyện quả đấm của ta khi nảy, khi ta làm mất sự thăng bằng của các lực lượng khác thì lẽ dĩ nhiên chúng phản động lại xuyên qua ta đặng lập lại sự quân bình như khi trước. Nghĩa là, ta phải lãnh lấy hậu quả của những việc mà ta đã làm.
2)- BA CÁCH GÂY RA NHÂN QUẢ
Có ba cách gây ra Nhân Quả:
1)- Những lực ở thế giới Tư tưởng (Cõi Thượng giới);
2)- Những lực ở trong thế giới Tình cảm (Cõi Trung giới hay là Dục giới);
3)- Những lực ở trong thế giới Hữu hình hay là cõi Trần nầy.
Hiểu như vậy có thể nói: Mỗi lần ta tư tưởng, ta ham muốn, hay là ta nói năng hành động, ta sửa đổi vị trí của ta đối với Vũ trụ và vị trí của Vũ trụ đối với ta.
Hễ ta cắt nghĩa về Nhân Quả thì ta phải nói tới những lực và những hiệu quả của chúng. Những lực nầy thuộc về cõi Trần, hữu hình nầy, hoặc thuộc về thế giới Tình cảm hoặc thuộc về thế giới Tư tưởng.
Cả ngày lẫn đêm, mỗi giờ, mỗi phút ta đều diễn động ba thứ lực nầy và tùy cách ta sử dụng chúng, ta giúp đỡ, hay là ta cản trở đường tiến hóa của những kẻ khác bởi vì không phải ta ở riêng biệt một mình giữa cõi Trần mà ta vẫn sống chung với Nhân loại, một khối duy nhứt, hiện giờ gồm bốn ngàn triệu linh hồn như ta. Mỗi tư tưởng, mỗi ý muốn, mỗi tình cảm, mỗi lời nói và mỗi việc làm của ta đều cảm tới những người đồng loại, luôn cả các loài thú vật, cây cỏ, kim thạch và tinh chất ở chung quanh ta. Ai ở gần ta chừng nào thì chịu ảnh hưởng nhiều chừng nấy.
Rồi một thời gian sau, tùy theo bản tánh của chúng, ta phải lãnh lấy cái Phản động lực, tốt hay xấu, lành hay dữ, không trốn tránh đường nào cho khỏi được.
Tới đây quí bạn đã thấy: Luật Nhân Quả là luật bảo tồn toàn thể khí lực của Vũ trụ không cho tiêu tan chớ nào phải chuyện dị đoan phi lý …
Nhờ nó dạy ta phải hành động cách nào cho hợp với cơ Trời, ta tiến tới mau và không gây quả xấu về sau cho người và cho ta một lượt.
Đừng phạm luật Trời
Xin nhớ: hễ luật Trời thì đừng vi phạm, vi phạm thì sẽ bị trả quả bởi vì trong vũ trụ các luật đều quân bình. Nếu luật nào bị mất quân bình thì luật đó sẽ phản động trở lại quân bình như xưa. Chúng ta không thể thủ tiêu một luật thiên nhiên nào cả và cũng không thể ngăn cản nó không cho nó hành động được; nhưng chúng ta có thể đem một luật khác chống với nó. Nếu hai sức mạnh bằng nhau thì luật trước không còn hiệu lực nữa; ta đổi chiều hướng của sự hành động của nó rồi. Ví bằng luật ta dùng yếu hơn luật trước thì luật trước sẽ có ảnh hưởng đến ta, nhưng sức mạnh của nó đã giảm tùy theo sức đối chọi của luật ta sử dụng.
Thí dụ: ta thảy trái banh vô vách, trái banh sẽ đụng vách, nếu không có cái cho ngăn cản nó. Bây giờ có một người khác đưa ra một tấm ván chính giữa nó và vách, khi nó đụng tấm ván thì nó dội ngược, nó không đi tới vách được mà đi qua ngã khác. Xin lấy luật hấp dẫn hay hấp lực (loi d’attraction) mà giải thêm nữa, theo luật nầy vạn vật đều bị rút xuống trung tâm trái đất.
Ta hãy bắt một cái thang rồi trèo lên. Lúc trèo, ta bị hấp lực đè xuống nhưng ta dùng một luật khác chỏi với nó, luật đó là sức mạnh của bắp thịt ta. Sức của ta dùng thắng hấp lực, nên ta mới leo lên được, tới chừng nào ta mỏi mệt, hấp lực thắng, ta phải ngừng lại.
Chung quanh ta là những luật Trời, ta phải học rành rẽ đặng áp dụng vào đời sống hằng ngày của ta, nhờ vậy ta mới tiến mau. Muốn áp dụng luật nào ta phải học rành rẽ luật đó và phải tuân theo nó trước, nhiên hậu mới điều khiển nó được. Nói một cách khác, muốn chinh phục tạo vật trước hết ta phải tùng phục nó. (La nature est conqise par l’obéissance).
(Còn tiếp)
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
CHƯƠNG THỨ NHÌ: VÀI THÍ DỤ VỀ NHÂN QUẢ
Quí bạn thường nghe nói về Nhân Quả; song phần đông cho là chuyện viễn vông, xa vời không biết đâu mà tin, vì không thấy trước mặt như hai với hai là bốn.
Nhưng quí bạn hãy chịu khó suy nghĩ một chút thì thấy Nhân Quả là chuyện xảy ra hằng ngày, trong mình ta, trong nhà, ngoài đường và chỗ nào cũng có. Tôi xin kể vài thí dụ cho quí bạn nghe :
Một người kia trợt té, trầy đầu gối. Trợt té là nhân, trầy đầu gối là quả. Cầm một tách nước đổ trên bàn, cái bàn ướt. Đổ nước trên bàn là nhân, cái bàn ướt là quả. Siêng năng, cố gắng và biếng nhác là nhân; học giỏi, học dở là quả.
Cần kiệm thì dư giả, xài phá thì thiếu hụt. Cần kiệm và xài phá là nhân; dư giả, thiếu hụt là quả. Chưởi người, đánh người thì bị người chưởi lại, đánh lại. Chưởi người, đánh người là nhân; bị người chưởi lại, đánh lại là quả. Đồ ăn sanh ra máu huyết, xương thịt. Đồ ăn là nhân; máu huyết, xương thịt là quả. Trồng hường thì hường mọc lên, trồng đậu thì đậu mọc lên. Không khi nào gieo lúa mà mọc ớt bao giờ.
Luôn luôn có Nhân thì có Quả, nhưng có khi Quả tới mau hay chậm là tùy theo tánh cách và trường hợp của Nhân.
Cấy lúa thì tùy theo giống, ba tháng hay sáu tháng gặt được, còn trồng xoài, sáu bảy năm mới có trái, v.v…
Trong trời đất toàn là những cuộc tuần huờn do một dọc nhân và quả nối tiếp nhau, nhân nầy sanh ra quả kia, quả kia lại thành ra nhân nọ.
Trở lại thí dụ ta té trầy đầu gối; ta trầy đầu gối thì thân thể đau nhức. Trầy đầu gối khi trước là cái quả của cái té, mà bây giờ nó thành ra cái nhân, làm cho thân thể đau nhức thì ta ngủ không được. Cái quả thân thể đau nhức trở lại thành ra cái nhân làm cho ta mất ngủ.
Luật Nhân Quả mới nghe qua thì dễ hiểu, song thật sự nó cực kỳ khó khăn và vô cùng phức tạp, vì có những nguyên nhân do tư tưởng và ý muốn sanh ra cả chục kiếp trước nghĩa là sáu bảy ngàn năm rồi, chúng ta không tri ta được và dính liền với cả chục, cả trăm và cả muôn người khác nữa. Phải tu hành tới bực Chơn sư sắp lên mới rõ các chi tiết.
Luật Nhân Quả, luật Luân Hồi và luật Hy Sanh là ba luật rất quan trọng mà người học đạo phải biết một cách rành rẽ thì mới tiến mau. Ba luật nầy đều có liên quan mật thiết với nhau. Gây ra nhân lành hay dữ đều phải đầu thai đặng hưởng quả tốt hay quả xấu của mình đã tạo ra. Tới chừng nào người ta thật quên mình và hy sanh vì thương đời, không còn háo danh hay tư lợi nữa thì mới chặt được dây xiềng xích trói mình vào bánh xe luân hồi.
Thế nên biết được luật Nhân Quả dầu một cách tổng quát cũng nắm được số mạng mình trong tay, miễn là có chí khí và nhẫn nại sửa cách ăn thói ở của mình cho hạp với luật Trời, in theo những lời các vị giáo chủ dạy dỗ.
Sự khảo cứu về Nhân Quả chia ra làm sáu phần :
1) Nhân quả là luật Thiên nhiên
2) Cách gây ra Nhân quả
3) Các thứ Nhân quả
4) Ai định cách trả quả
5) Cách diệt Nhân quả
6) Những chuyện Nhân quả
1)- NHÂN QUẢ LÀ LUẬT THIÊN NHIÊN
Ta có thể nói rằng Nhân - Quả là luật Thiên nhiên, ở đâu cũng có nó, nó thâm nhập khắp nơi, không có loài nào tránh khỏi ảnh hưởng của nó.
Ta hãy xem một hiện tượng xảy ra. Hiện tượng nầy vừa là Quả, vừa là Nhân một lượt. Quả của một quá khứ và Nhân của một tương lai. Quả của quá khứ bởi vì có một nguyên nhân sanh nó ra, còn Nhân của tương lai bởi vì nó sanh ra một hiện tượng mới khác nữa.
Trong đời sự nối tiếp và sự liên lạc việc nầy với việc kia, người ta gọi là Luật Nhân Quả. Người ta gọi Luật căn bản, nhờ nó mới có trật tự, sự thăng bằng và tiến hóa của Nhân loại.
Trong trời đất, tất cả những hiện tượng xảy ra đều là những cuộc tuần huờn do một một dọc Nhân và Quả nối tiếp nhau, Nhân nầy sanh ra Quả kia, rồi Quả kia lại trở thành Nhân nọ. Nhân – Quả cứ tiếp tục từ Vũ trụ nầy qua Vũ trụ kia, từ Thái dương hệ nầy sang Thái dương hệ nọ; chớ không phải riêng gì dải Hành tinh, hay là kiếp sống của loài người và các loài khác mà thôi.
Các điều mà chúng ta gọi là Nhân – Quả hay là “Nghiệp” tiếng Phạn gọi là Cát ma (Karma). Karma có nghĩa là Hành động. Nhưng mà sự Hành động luôn luôn bao hàm sự Phản động. Vì vậy Karma có nghĩa là Động và Phản động một lượt. Sự Động và Phản động luôn luôn cân xứng với nhau và chống chỏi với nhau mãi.
Thí dụ: Ta lấy tay đập vào cái bàn thì tay ta bị dội lại. Sự dội lại là sự Phản động của cái bàn. Cầm trái banh liệng vào vách tường, nếu ta liệng nhẹ thì nó dội lại nhẹ, ta liệng mạnh thì nó dội lại mạnh.
Thế nào gọi là Luật Thiên nhiên?
Bây giờ ta nên hỏi: Luật Thiên nhiên là luật gì? Luật Thiên nhiên là một dọc Nhân Quả nối tiếp nhau theo thứ tự nhứt định và không đổi dời.
Thí dụ: Có A với B thì luôn có C theo một bên. Luật nầy không phải là một mạng lịnh, nó không bảo các ngài làm cái nầy, chớ không nên làm cái kia, hay là các ngài phải có A và B thì mới có C, mà nó lại nói: Nếu các ngài muốn có C thì phải hiệp A và B lại, hoặc nếu các ngài không muốn có C thì phải rán làm cho A dang xa B, hoặc nếu các ngài đem A cách xa B thì các ngài không có C.
Vì vậy ta có thể nói chắc chắn rằng Luật Thiên nhiên không phải là một luật bó buộc mà nó là một luật để giúp ta hành động cho đúng với Cơ Trời, nó dạy ta biết những điều kiện nào mà ta phải giữ nếu ta không muốn tạo thành hay là tránh xa một hiệu quả nhứt định.
Những Luật Thiên nhiên vốn bất di bất dịch và bất vi phản (inviolable). Nếu chúng nó đổi dời mãi thì không khoa học nào tồn tại được.
Không phải bữa nay khinh khí với dưỡng khí hiệp lại thành nước, rồi ngày mai hai thứ đó lại thành lửa; không phải bữa nay lửa nóng dữ dội rồi ngày mai nó lại lạnh như đồng, nếu bữa nay nước lỏng le rồi ngày mai nó đặc cứng thành nước đá là tại điều kiện của hoàn cảnh thay đổi. Bởi vậy tục ngữ Pháp có câu: “Biết thì làm được” (Savoir, c’est pouvoir).
Vì chưng dây Nhân Quả nối chằng chịt với nhau không thể tránh được cho nên người dốt nát phải bó tay chịu bất lực trước những Luật Thiên nhiên. Còn nhờ sự học hỏi rộng sâu ta thấu hiểu luật Trời thì ta dễ kiểm soát những động lực của ta sanh ra hầu tránh những kết quả không hay về sau nầy.
Luật Nhân Quả cắt nghĩa theo Khoa học
Vũ trụ là sự biểu hiện của khí lực. Khí lực có thể biến đổi ra điện, từ điện, nhiệt lực, ánh sáng v.v…
Mặt trời là một bầu khí lực lớn, còn điện tử là một bầu khí lực nhỏ. Kim thạch, thảo mộc, cầm thú hay là con người đều là những bầu khí lực, đây không phải là lời nói ngoa đâu, bởi vì xác thân của con người, thú vật, cây cỏ và kim thạch đều làm bằng những tế bào, mà mỗi tế bào đều do nhiều nguyên tử cấu thành.
Đem phân tích mỗi nguyên tử thì thấy:
a) Chính giữa là một hột gọi là nhân (noyau) chứa nhiều hột điện dương (dương điện tử - protons) và một số hột không chứa điện nào cả, gọi là trung hòa tử (neutrons);
b) Chung quanh nhân thì có những hột điện âm (âm điện tử - (électrons) xây tròn không khác nào những hành tinh xây quanh mặt trời. Chính giữa âm điện tử và nhân là khoảng trống không tuyệt đối. Ngày nay khoa học cho rằng vật chất tương đương với khí lực (matière – énergie) bởi vì khi khí lực hiện ra thì có một khối vật chất tiêu tan.
Sự biến đổi khí lực
Trong lúc ta ăn uống, dùng thuốc men thì ta thâu khí lực vô mình bởi vì đồ ăn hay thuốc men khi tiêu hóa thì biến thành máu huyết, xương thịt, hay là thêm sức mạnh cho ta.
Nếu ta dùng khí lực hay là sức mạnh nầy đặng làm những việc lành, việc phải, hữu ích cho đời thì ta gọi khí lực nầy tốt. Trái lại nếu ta dùng nó để làm việc dữ gây ra những sự khổ não cho đời thì người ta gọi khí lực nầy xấu. Thật sự khí lực nầy không tốt mà cũng không xấu, chỉ tại cách ta sử dụng nó thôi, cũng như điện, để đốt đèn, để nấu ăn, để chạy máy đều được mà dùng để giết người cũng được nữa.
Làm mất sự thăng bằng của Vũ trụ
Trọn đời, con người là một cái máy biến điện, nó thâu khí lực vô mình rồi biến đổi ra việc lành hay việc dữ.
Nhưng ta nên biết chung quanh cõi Hữu hình mà ta gọi là cõi Trần đây còn 6 thế giới khác nữa mà con mắt ta không thấy được, bởi vì nó làm bằng những chất khí, càng lên cao thì càng mảnh mai và càng tốt đẹp hơn chất khí làm ra cõi Trần nhiều lắm.
Bởi không thấy được nên tạm gọi chúng nó là cõi Vô hình.
Những thế giới Vô hình nầy bắt dưới kể lên thì là như vầy:
1/ Cõi thứ sáu là thế giới Tình cảm hay cõi Dục giới, cũng gọi là Trung giới (Plan astral).
2/ Cõi thứ năm là thế giới Tư tưởng hay là cõi Thượng giới, cõi Thiên đường hay là cõi Trí tuệ (Plan mental).
3/ Cõi thứ tư là thế giới Trực giác hay là cõi Bồ đề (Plan Bouddhique).
4/ Cõi thứ ba là thế giới Thiêng liêng hay là cõi Niết Bàn (Plan Nirvanique ou Nirvana).
5/ Cõi thứ nhì là thế giới Đại Thiêng liêng hay là cõi Đại Niết Bàn (Plan Paranirvanique ou Paranirvana).
6/ Cõi thứ nhứt là thế giới Tối Đại Thiêng liêng hay là cõi Tối Đại Niết Bàn (Plan Mahaparanirvanique ou Mahaparanirvana).
Sáu thế giới nầy cộng với cõi Trần là 7 cõi. 7 thế giới nầy thâm nhập với nhau và liên quan mật thiết với nhau.
Bây giờ đây thí dụ ta đấm trên không một cái. Quả đấm của ta không đụng tới ai cả, nhưng khi ta giơ tay đấm thì ta phóng ra một lực lượng đụng tới những lực lượng khác trong vũ trụ làm cho mất sự thăng bằng của chúng nó.
Ta nên biết rằng trong trời đất vạn vật đều tuân theo luật thăng bằng và luật điều hòa. Nếu có cái chi làm chinh sự thăng bằng và sự điều hòa thì sự vật phản động đặng lập lại sự quân bình như trước. Ấy là thuyết “thế lực quân hoành” (Equilibre des forces) của khoa học và nhờ vậy mà toàn thể khí lực không bao giờ mất.
Trở lại câu chuyện quả đấm của ta khi nảy, khi ta làm mất sự thăng bằng của các lực lượng khác thì lẽ dĩ nhiên chúng phản động lại xuyên qua ta đặng lập lại sự quân bình như khi trước. Nghĩa là, ta phải lãnh lấy hậu quả của những việc mà ta đã làm.
2)- BA CÁCH GÂY RA NHÂN QUẢ
Có ba cách gây ra Nhân Quả:
- Một là: Tư tưởng;
- Hai là: Ý muốn và tình cảm;
- Ba là: Lời nói và việc làm.
- Tưởng đến một điều gì,
- Muốn một điều gì,
- Nói, hay làm một điều gì
1)- Những lực ở thế giới Tư tưởng (Cõi Thượng giới);
2)- Những lực ở trong thế giới Tình cảm (Cõi Trung giới hay là Dục giới);
3)- Những lực ở trong thế giới Hữu hình hay là cõi Trần nầy.
Hiểu như vậy có thể nói: Mỗi lần ta tư tưởng, ta ham muốn, hay là ta nói năng hành động, ta sửa đổi vị trí của ta đối với Vũ trụ và vị trí của Vũ trụ đối với ta.
Hễ ta cắt nghĩa về Nhân Quả thì ta phải nói tới những lực và những hiệu quả của chúng. Những lực nầy thuộc về cõi Trần, hữu hình nầy, hoặc thuộc về thế giới Tình cảm hoặc thuộc về thế giới Tư tưởng.
Cả ngày lẫn đêm, mỗi giờ, mỗi phút ta đều diễn động ba thứ lực nầy và tùy cách ta sử dụng chúng, ta giúp đỡ, hay là ta cản trở đường tiến hóa của những kẻ khác bởi vì không phải ta ở riêng biệt một mình giữa cõi Trần mà ta vẫn sống chung với Nhân loại, một khối duy nhứt, hiện giờ gồm bốn ngàn triệu linh hồn như ta. Mỗi tư tưởng, mỗi ý muốn, mỗi tình cảm, mỗi lời nói và mỗi việc làm của ta đều cảm tới những người đồng loại, luôn cả các loài thú vật, cây cỏ, kim thạch và tinh chất ở chung quanh ta. Ai ở gần ta chừng nào thì chịu ảnh hưởng nhiều chừng nấy.
Rồi một thời gian sau, tùy theo bản tánh của chúng, ta phải lãnh lấy cái Phản động lực, tốt hay xấu, lành hay dữ, không trốn tránh đường nào cho khỏi được.
Tới đây quí bạn đã thấy: Luật Nhân Quả là luật bảo tồn toàn thể khí lực của Vũ trụ không cho tiêu tan chớ nào phải chuyện dị đoan phi lý …
Nhờ nó dạy ta phải hành động cách nào cho hợp với cơ Trời, ta tiến tới mau và không gây quả xấu về sau cho người và cho ta một lượt.
Đừng phạm luật Trời
Xin nhớ: hễ luật Trời thì đừng vi phạm, vi phạm thì sẽ bị trả quả bởi vì trong vũ trụ các luật đều quân bình. Nếu luật nào bị mất quân bình thì luật đó sẽ phản động trở lại quân bình như xưa. Chúng ta không thể thủ tiêu một luật thiên nhiên nào cả và cũng không thể ngăn cản nó không cho nó hành động được; nhưng chúng ta có thể đem một luật khác chống với nó. Nếu hai sức mạnh bằng nhau thì luật trước không còn hiệu lực nữa; ta đổi chiều hướng của sự hành động của nó rồi. Ví bằng luật ta dùng yếu hơn luật trước thì luật trước sẽ có ảnh hưởng đến ta, nhưng sức mạnh của nó đã giảm tùy theo sức đối chọi của luật ta sử dụng.
Thí dụ: ta thảy trái banh vô vách, trái banh sẽ đụng vách, nếu không có cái cho ngăn cản nó. Bây giờ có một người khác đưa ra một tấm ván chính giữa nó và vách, khi nó đụng tấm ván thì nó dội ngược, nó không đi tới vách được mà đi qua ngã khác. Xin lấy luật hấp dẫn hay hấp lực (loi d’attraction) mà giải thêm nữa, theo luật nầy vạn vật đều bị rút xuống trung tâm trái đất.
Ta hãy bắt một cái thang rồi trèo lên. Lúc trèo, ta bị hấp lực đè xuống nhưng ta dùng một luật khác chỏi với nó, luật đó là sức mạnh của bắp thịt ta. Sức của ta dùng thắng hấp lực, nên ta mới leo lên được, tới chừng nào ta mỏi mệt, hấp lực thắng, ta phải ngừng lại.
Chung quanh ta là những luật Trời, ta phải học rành rẽ đặng áp dụng vào đời sống hằng ngày của ta, nhờ vậy ta mới tiến mau. Muốn áp dụng luật nào ta phải học rành rẽ luật đó và phải tuân theo nó trước, nhiên hậu mới điều khiển nó được. Nói một cách khác, muốn chinh phục tạo vật trước hết ta phải tùng phục nó. (La nature est conqise par l’obéissance).
(Còn tiếp)
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Khuôn Vàng Thước Ngọc: Các tôn giáo đều có dạy nhân quả (Bạch Liên)
All religions and spiritual traditions have taught the law of karma, or "as you sow so shall you reap." If we inflict suffering upon others, the suffering will come back to us in one form or another.
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
(Còn tiếp)
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Trích: "NHÂN QUẢ"
Tác giả BẠCH LIÊN
1971
www.thongthienhoc.com
CHƯƠNG THỨ NHỨT: CÁC TÔN GIÁO ĐỀU CÓ DẠY NHÂN QUẢ
Luật Nhân Quả là Luật Đại Đồng, nó chi phối sự tiến hóa của muôn loài vạn vật, chi nên các tôn giáo đều có nói đến nó, dưới hình thức nầy hay dưới hình thức khác mà ta phải hiểu ngầm vậy.
Tỷ như trong
Tỷ như trong
I: NHO GIÁO
1.- Tử viết: Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phước vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa. (Đức Khổng Tử nói rằng: Người làm sự lành, Trời lấy phước trả cho nó, người làm sự chẳng lành, Trời lấy họa trả cho nó.)
2.- Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo thì thần vị đáo. (Làm lành thì có trả lành, làm dữ thì có dữ trả. Nhược bằng chưa trả là tại chưa đúng ngày giờ.)
II: THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên viết: họa phước vô môn duy nhơn tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình. (Thiên Thái Thượng Cảm Ứng dạy rằng: Họa phước không có cửa chỉ tại người ta vời nó tới. Lành dữ đều có trả như bóng theo hình.)
III: ẤN GIÁO
1.- Do Karma của nó mà con người có thể thành thiên đế.
Anh Tra (Indra); do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra con của Phạn vương, do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra người phụng sự Đấng Hari và thoát đọa luân hồi. Do sự hành động của nó mà con người chắc chắn được trọn lành và trường sanh bất tử. (Devi Bhagavata IX, XXVII, 18 – 20)
2.- Không có cái chi mọc lên mà chẳng có hột giống, không có người nào hưởng đặng hạnh phúc nếu không làm những điều dắt đến hạnh phúc. (Mahâbhârata, Shanti Parva – C C I, 23)
IV: CỔ BA TƯ GIÁO (ZOROASTRISME)
1.- Chiếu theo luật đời xưa, Ratou sẽ xử đoán một cách công bình cho các vị thánh cũng như cho các người hung ác và những người mà việc lành và việc dữ cân phân với nhau. (Ahounavad Gatha XXXIII – 1)
2.- Những người hung dữ chịu đau khổ lâu dài, những người công bình sẽ được ban hưởng trọng hậu và hưởng hạnh phúc. (Jasna, XXX – 11)
V: PHẬT GIÁO
1.- Trong mọi việc, tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà trong trí tưởng quấy thì sự khổ não sẽ đeo đuổi theo một bên nó cũng như cái bánh xe lăn theo chơn con bò kéo xe.
2.- Trong mọi việc tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà cái trí vẫn thanh bạch thì hạnh phúc không rời nó cũng như cái bóng không lìa mình. (Pháp cú – Những câu kinh đôi)
1.- Tử viết: Vi thiện giả thiên báo chi dĩ phước vi bất thiện giả thiên báo chi dĩ họa. (Đức Khổng Tử nói rằng: Người làm sự lành, Trời lấy phước trả cho nó, người làm sự chẳng lành, Trời lấy họa trả cho nó.)
2.- Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo thì thần vị đáo. (Làm lành thì có trả lành, làm dữ thì có dữ trả. Nhược bằng chưa trả là tại chưa đúng ngày giờ.)
II: THÁI THƯỢNG CẢM ỨNG THIÊN
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên viết: họa phước vô môn duy nhơn tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình. (Thiên Thái Thượng Cảm Ứng dạy rằng: Họa phước không có cửa chỉ tại người ta vời nó tới. Lành dữ đều có trả như bóng theo hình.)
III: ẤN GIÁO
1.- Do Karma của nó mà con người có thể thành thiên đế.
Anh Tra (Indra); do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra con của Phạn vương, do sự hành động của nó mà con người có thể thành ra người phụng sự Đấng Hari và thoát đọa luân hồi. Do sự hành động của nó mà con người chắc chắn được trọn lành và trường sanh bất tử. (Devi Bhagavata IX, XXVII, 18 – 20)
2.- Không có cái chi mọc lên mà chẳng có hột giống, không có người nào hưởng đặng hạnh phúc nếu không làm những điều dắt đến hạnh phúc. (Mahâbhârata, Shanti Parva – C C I, 23)
IV: CỔ BA TƯ GIÁO (ZOROASTRISME)
1.- Chiếu theo luật đời xưa, Ratou sẽ xử đoán một cách công bình cho các vị thánh cũng như cho các người hung ác và những người mà việc lành và việc dữ cân phân với nhau. (Ahounavad Gatha XXXIII – 1)
2.- Những người hung dữ chịu đau khổ lâu dài, những người công bình sẽ được ban hưởng trọng hậu và hưởng hạnh phúc. (Jasna, XXX – 11)
V: PHẬT GIÁO
1.- Trong mọi việc, tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà trong trí tưởng quấy thì sự khổ não sẽ đeo đuổi theo một bên nó cũng như cái bánh xe lăn theo chơn con bò kéo xe.
2.- Trong mọi việc tư tưởng là cội rễ, tư tưởng đứng đầu, cả thảy đều do tư tưởng mà ra. Người nào nói hay làm mà cái trí vẫn thanh bạch thì hạnh phúc không rời nó cũng như cái bóng không lìa mình. (Pháp cú – Những câu kinh đôi)
VI: HY BÀ LAI GIÁO (RELIGION DES HÉBREUX)
1.- Những người cày và gieo sự bất công thì sẽ gặt hái những quả của những việc làm của họ. ( Job – IX – 8)
2.- Kẻ nào thương xót người nghèo khổ tức là cho Trời vay mượn, Trời sẽ trả lại cho nó cái gì mà nó đã cho Trời vay. (Proverbes (Cách ngôn) - XIX - 17)
1.- Những người cày và gieo sự bất công thì sẽ gặt hái những quả của những việc làm của họ. ( Job – IX – 8)
2.- Kẻ nào thương xót người nghèo khổ tức là cho Trời vay mượn, Trời sẽ trả lại cho nó cái gì mà nó đã cho Trời vay. (Proverbes (Cách ngôn) - XIX - 17)
VII: THIÊN CHÚA GIÁO
1.- Anh đừng xét đoán ai cả đặng sau khỏi bị người ta xét đoán, bởi vì người ta xét đoán anh như anh đã xét đoán kẻ khác và người ta sẽ đo lường anh với vật mà anh đã dùng để đo lường người ta. (Saint Mathieu – VII, 1 – 2)
1.- Anh đừng xét đoán ai cả đặng sau khỏi bị người ta xét đoán, bởi vì người ta xét đoán anh như anh đã xét đoán kẻ khác và người ta sẽ đo lường anh với vật mà anh đã dùng để đo lường người ta. (Saint Mathieu – VII, 1 – 2)
2.- Ông thánh Phao Lồ (Saint Paul) có nói: anh đừng lầm về điều đó. Người ta không có nhạo báng trời đâu. Người ta gieo giống chi thì gặt giống nấy.
Kẻ nào gieo cho xác thân thì sẽ gặt hái sự trụy lạc, hôi hám của xác thịt. Kẻ nào gieo cho tinh thần thì sẽ gặt sự trường sanh bất tử của tinh thần. Đừng mỏi lòng làm việc thiện. Đúng ngày giờ chúng ta sẽ gặt hái, nếu chúng ta không thối chí. (Galates – VI 4.5.7.9)
VII: HỒI GIÁO
1.- Mọi người đều được bạn thưởng cân xứng với những sự hành động của mình, bởi vì Trời không có làm ngơ trước những việc làm của chúng ta đâu. (Coran VI – 132)
2.- Những sự đau khổ tới cho anh vốn do Trời giáng xuống, chúng là kết quả những sự hành động của anh. (Coran XLII, 29)
***********
VII: HỒI GIÁO
1.- Mọi người đều được bạn thưởng cân xứng với những sự hành động của mình, bởi vì Trời không có làm ngơ trước những việc làm của chúng ta đâu. (Coran VI – 132)
2.- Những sự đau khổ tới cho anh vốn do Trời giáng xuống, chúng là kết quả những sự hành động của anh. (Coran XLII, 29)
***********
Bao nhiêu đây, thiết tưởng quí bạn cũng đủ thấy từ cổ cập kim, từ đông sang tây, chơn lý vẫn một.
Bây giờ tôi xin đưa ra vài thí dụ về Nhân Quả mà ai ai cũng có thể thấy trước mặt rồi sẽ bàn rộng ra.
Bây giờ tôi xin đưa ra vài thí dụ về Nhân Quả mà ai ai cũng có thể thấy trước mặt rồi sẽ bàn rộng ra.
http://www.thongthienhoc.com/sach%20nhan%20qua.htm
Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2011
Khuôn Vàng Thước Ngọc: Ý Nghĩa Chuyện Bà Lão Cúng Đèn Thời Đức Phật (Thích Nữ Chân Liễu)
When Shakyamuni Buddha was on Earth, a poor and elderly lady used all her money to purchase a tiny lamp for offering. After a few days, of all the lamps and lanterns offered, hers was the only one that remained lit. The Buddha explained that she made the offering without thinking about herself but rather for the salvation of the multitude. Bikhuni Thích Nữ Chân Liễu says the Light of Wisdom (or our Divine Nature) is within each of us and permanent. When making offering or praying, it is better to yearn for our and others' enlightenment or realization of Truth, not for ephemeral material and personal gains.
Ý Nghĩa Chuyện Bà Lão Cúng Đèn Thời Đức Phật
Thích Nữ Chân Liễu
Thời đức Phật còn tại thế, có một bà lão nghèo khổ, ăn xin độ nhật. Bà lão ăn xin vì hoàn cảnh nghèo khó, hằng ngày chỉ biết lo miếng ăn, nên chưa bao giờ gặp được đức Phật. Tuy thế, bà lão vẫn âm thầm ngưỡng mộ, quí kính đức Phật.
Một hôm, có lễ hội cúng dường Phật và chư Tăng, từ hàng Phật tử tại gia giàu sang, quyền thế, cho đến những người có thiện tâm đều nô nức trẩy hội. Ngày hội gần đến, gần xa nô nức kéo về tịnh xá Kỳ Viên.
Lúc nầy, bà lão nghĩ rằng: Một đời mình đói khổ, lại già nua, sắp hết tuổi trời, nếu hội này không gặp Phật thì không bao giờ được gặp Ngài. Nghĩ như thế, bà lão vừa lần hồi xin ăn dọc đường, vừa đến gần Kỳ Viên tịnh xá, nơi đức Phật và chư Tăng đang trú ngụ.
Khi đến gần Kỳ Viên, một cảnh tượng huy hoàng, tráng lệ chưa từng thấy, ngựa xe chen chúc, đủ mọi hạng người nêm cứng những con đường về tịnh xá. Dọc trên những con đường đó, hoa kết, đèn treo để cúng dường đức Phật và chư Tăng. Những ngọn đèn sơn son thếp vàng rực rỡ của hạng vua quan đại thần, bên cạnh những ngọn đèn nhỏ hơn của hàng thứ dân dâng cúng. Đủ thứ loại ngọn đèn sáng trưng, màu sắc chói cả mắt người qua lại.
Bà lão tự nghĩ mình chỉ có khả năng cúng dường Phật Pháp Tăng một ngọn đèn nhỏ nhoi, không cầu gì cho riêng mình cả, nhưng tâm nguyện rằng: Ngài là đấng Thế Tôn, là bậc đại từ đại bi, có thể đem Pháp cam lồ giúp chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi. Hạnh nguyện cao thượng với bồ đề tâm “vì người, không vì mình” của bà lão, được đức Phật chứng tri.
Thế rồi, bà lão dốc hết cả gia tài chỉ được 2 xu, để mua cây đèn nhỏ và dầu thắp. Bà lão hướng về Kỳ Viên tịnh xá, hướng về đức Phật đảnh lễ, mong đức Phật chứng tri cho tấm lòng thanh tịnh và thành kính đã phát nguyện.
Ba ngày đêm trôi qua, những tràng hoa héo rủ, những ngọn đèn lần lượt cạn dầu rồi tắt ngúm. Chỉ riêng ngọn đèn nhỏ của bà lão nghèo ăn xin vẫn còn cháy sáng. Hiện tượng đó thật kỳ lạ, nên mọi nguời truyền nhau đi xem, ai cũng cho rằng đó là điều hy hữu, xưa nay chưa từng thấy. Một thí chủ giàu sang đến thưa hỏi đức Phật: Tại sao ngọn đèn nhỏ, ít dầu kia vẫn còn cháy sáng?
Đức Phật dạy rằng: Vì đó là ngọn đèn của một thí chủ, tuy nghèo khó, nhưng tâm kính trọng Phật Pháp Tăng và hạnh nguyện cao thượng vượt bực mà cúng đèn.
Tâm của bà lão chỉ cầu mong ánh sáng từ bi và trí tuệ soi sáng đến muôn loài. Vì tâm thành hiền lương thanh tịnh cao tột đó, nên ngọn đèn Phật tâm Phật tánh hiển hiện của bà lão vẫn còn sáng mãi không tắt. Những ngọn đèn khác tuy sang trọng hơn, lớn hơn, nhưng do tâm chúng sanh phàm phu ích kỷ, vì tư lợi mà dâng cúng, và lòng tham mong cầu riêng cho bản thân. Tất cả chỉ cháy sáng trong một thời gian ngắn rồi cũng đều lịm tắt.
Suy ngẫm:
Có hai loại ngọn đèn:
1. Ngọn đèn trí tuệ: tượng trưng “Phật tâm Phật tánh” sáng suốt của mỗi con người ai cũng có sẵn, bình đẳng, không có biệt trừ. Chỉ có phàm phu mới có tâm phân biệt giai cấp, sang hèn, hơn thua, so đo, nên sanh phiền não. Ý nghĩa cúng đèn với bản tâm thanh tịnh, mồi ánh sáng trí tuệ từ ngọn đuốc Phật Pháp. Ngoài ra, không cầu xin gì riêng cho cái tôi (bản ngã), không đòi hỏi Chư Phật phải ban cho mình gì cả và cũng không tính toán hơn thua danh lợi. Đó mới là tấm lòng cúng dường Phật Pháp trong sáng thanh tịnh, vì người, không vì riêng cá nhân mình, gia đình mình (gọi là cúng dường ba la mật), cho nên tương ưng với tâm của Chư Phật và Chư Bồ tát. Ngọn đèn công đức, đầy đủ từ bi trí tuệ đó cháy mãi với thời gian.
2. Ngọn đèn thế tục: tượng trưng sự giàu có phô trương, mặc dù nhiều dầu, sang trọng, mắc tiền, nhưng có lúc cũng phải cạn và lịm tắt dần. Ví như của cải sang giàu, phước báu, nhưng khi hưởng hết, hoặc cuối cuộc đời rồi cũng phải buông xuôi, mất đi tất cả theo luật vô thường. Con người thế gian khi cúng đèn với tâm cầu xin hưởng phước, đòi hỏi nhiều việc từ nơi Chư Phật, Chư Bồ tát, cầu mong được giàu sang an nhàn (cúng dường cầu danh lợi) cho riêng bản thân, thì chỉ được phước hữu lậu trong thời gian ngắn ngủi. Đèn thế tục còn lắm phiền não, tham lam và ích kỷ thì không thể cháy sáng lâu dài được. Đó là những phước báo rất ít ỏi khiến cho con người trôi lăn mãi trong luân hồi lục đạo.
Người tu học đạo phải trải lòng cao thượng rộng lớn, Từ Bi Hỷ Xả, trong khi cúng dường hoa, trái, nhang, đèn, nên phát tâm cầu giác ngộ Chánh Pháp hiện đời cho mình và cho tất cả chúng sanh, đều thành Phật đạo. Tu tâm sửa tánh, không khinh người, giúp đời hành thiện, tha thứ bao dung. Đó là hạnh nguyện đúng chánh pháp của người phát tâm tu theo Phật, hành Bồ Tát đạo.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
TKN THÍCH NỮ CHÂN LIỄU
Ý Nghĩa Chuyện Bà Lão Cúng Đèn Thời Đức Phật
Thích Nữ Chân Liễu
Thời đức Phật còn tại thế, có một bà lão nghèo khổ, ăn xin độ nhật. Bà lão ăn xin vì hoàn cảnh nghèo khó, hằng ngày chỉ biết lo miếng ăn, nên chưa bao giờ gặp được đức Phật. Tuy thế, bà lão vẫn âm thầm ngưỡng mộ, quí kính đức Phật.
Một hôm, có lễ hội cúng dường Phật và chư Tăng, từ hàng Phật tử tại gia giàu sang, quyền thế, cho đến những người có thiện tâm đều nô nức trẩy hội. Ngày hội gần đến, gần xa nô nức kéo về tịnh xá Kỳ Viên.
Lúc nầy, bà lão nghĩ rằng: Một đời mình đói khổ, lại già nua, sắp hết tuổi trời, nếu hội này không gặp Phật thì không bao giờ được gặp Ngài. Nghĩ như thế, bà lão vừa lần hồi xin ăn dọc đường, vừa đến gần Kỳ Viên tịnh xá, nơi đức Phật và chư Tăng đang trú ngụ.
Khi đến gần Kỳ Viên, một cảnh tượng huy hoàng, tráng lệ chưa từng thấy, ngựa xe chen chúc, đủ mọi hạng người nêm cứng những con đường về tịnh xá. Dọc trên những con đường đó, hoa kết, đèn treo để cúng dường đức Phật và chư Tăng. Những ngọn đèn sơn son thếp vàng rực rỡ của hạng vua quan đại thần, bên cạnh những ngọn đèn nhỏ hơn của hàng thứ dân dâng cúng. Đủ thứ loại ngọn đèn sáng trưng, màu sắc chói cả mắt người qua lại.
Bà lão tự nghĩ mình chỉ có khả năng cúng dường Phật Pháp Tăng một ngọn đèn nhỏ nhoi, không cầu gì cho riêng mình cả, nhưng tâm nguyện rằng: Ngài là đấng Thế Tôn, là bậc đại từ đại bi, có thể đem Pháp cam lồ giúp chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi. Hạnh nguyện cao thượng với bồ đề tâm “vì người, không vì mình” của bà lão, được đức Phật chứng tri.
Thế rồi, bà lão dốc hết cả gia tài chỉ được 2 xu, để mua cây đèn nhỏ và dầu thắp. Bà lão hướng về Kỳ Viên tịnh xá, hướng về đức Phật đảnh lễ, mong đức Phật chứng tri cho tấm lòng thanh tịnh và thành kính đã phát nguyện.
Ba ngày đêm trôi qua, những tràng hoa héo rủ, những ngọn đèn lần lượt cạn dầu rồi tắt ngúm. Chỉ riêng ngọn đèn nhỏ của bà lão nghèo ăn xin vẫn còn cháy sáng. Hiện tượng đó thật kỳ lạ, nên mọi nguời truyền nhau đi xem, ai cũng cho rằng đó là điều hy hữu, xưa nay chưa từng thấy. Một thí chủ giàu sang đến thưa hỏi đức Phật: Tại sao ngọn đèn nhỏ, ít dầu kia vẫn còn cháy sáng?
Đức Phật dạy rằng: Vì đó là ngọn đèn của một thí chủ, tuy nghèo khó, nhưng tâm kính trọng Phật Pháp Tăng và hạnh nguyện cao thượng vượt bực mà cúng đèn.
Tâm của bà lão chỉ cầu mong ánh sáng từ bi và trí tuệ soi sáng đến muôn loài. Vì tâm thành hiền lương thanh tịnh cao tột đó, nên ngọn đèn Phật tâm Phật tánh hiển hiện của bà lão vẫn còn sáng mãi không tắt. Những ngọn đèn khác tuy sang trọng hơn, lớn hơn, nhưng do tâm chúng sanh phàm phu ích kỷ, vì tư lợi mà dâng cúng, và lòng tham mong cầu riêng cho bản thân. Tất cả chỉ cháy sáng trong một thời gian ngắn rồi cũng đều lịm tắt.
Suy ngẫm:
Có hai loại ngọn đèn:
1. Ngọn đèn trí tuệ: tượng trưng “Phật tâm Phật tánh” sáng suốt của mỗi con người ai cũng có sẵn, bình đẳng, không có biệt trừ. Chỉ có phàm phu mới có tâm phân biệt giai cấp, sang hèn, hơn thua, so đo, nên sanh phiền não. Ý nghĩa cúng đèn với bản tâm thanh tịnh, mồi ánh sáng trí tuệ từ ngọn đuốc Phật Pháp. Ngoài ra, không cầu xin gì riêng cho cái tôi (bản ngã), không đòi hỏi Chư Phật phải ban cho mình gì cả và cũng không tính toán hơn thua danh lợi. Đó mới là tấm lòng cúng dường Phật Pháp trong sáng thanh tịnh, vì người, không vì riêng cá nhân mình, gia đình mình (gọi là cúng dường ba la mật), cho nên tương ưng với tâm của Chư Phật và Chư Bồ tát. Ngọn đèn công đức, đầy đủ từ bi trí tuệ đó cháy mãi với thời gian.
2. Ngọn đèn thế tục: tượng trưng sự giàu có phô trương, mặc dù nhiều dầu, sang trọng, mắc tiền, nhưng có lúc cũng phải cạn và lịm tắt dần. Ví như của cải sang giàu, phước báu, nhưng khi hưởng hết, hoặc cuối cuộc đời rồi cũng phải buông xuôi, mất đi tất cả theo luật vô thường. Con người thế gian khi cúng đèn với tâm cầu xin hưởng phước, đòi hỏi nhiều việc từ nơi Chư Phật, Chư Bồ tát, cầu mong được giàu sang an nhàn (cúng dường cầu danh lợi) cho riêng bản thân, thì chỉ được phước hữu lậu trong thời gian ngắn ngủi. Đèn thế tục còn lắm phiền não, tham lam và ích kỷ thì không thể cháy sáng lâu dài được. Đó là những phước báo rất ít ỏi khiến cho con người trôi lăn mãi trong luân hồi lục đạo.
Người tu học đạo phải trải lòng cao thượng rộng lớn, Từ Bi Hỷ Xả, trong khi cúng dường hoa, trái, nhang, đèn, nên phát tâm cầu giác ngộ Chánh Pháp hiện đời cho mình và cho tất cả chúng sanh, đều thành Phật đạo. Tu tâm sửa tánh, không khinh người, giúp đời hành thiện, tha thứ bao dung. Đó là hạnh nguyện đúng chánh pháp của người phát tâm tu theo Phật, hành Bồ Tát đạo.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
TKN THÍCH NỮ CHÂN LIỄU
Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011
Khuôn Vàng Thước Ngọc: Ý Nghĩa Phật Đản - The meaning of Buddha's holy birth (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)
The Most Venerable Thích Nhất Hạnh expounded on the meaning of the celebration of Buddha's holy birth. "Buddha is not a reality outside of ourselves; Buddha is also ourselves."
Ý Nghĩa Phật Đản
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Pháp thoại 22-05-2005
Có những nước Á Châu như nước Xilanca (Sri Lanka, Tích Lan), vào ngày Phật Đản không có ai bị đói bụng hết. Tại vì nhà nào cũng để mâm cơm ở trước cửa và bất cứ ai đói bụng cũng đều được mời ăn cơm đó. Trong ngày Phật Đản không có ai bị đói vì nhà nào cũng cúng dường cơm, chùa nào cũng cúng dường cơm. Đây là một truyền thống có từ mấy ngàn năm trước, từ thời Đức Thế Tôn.
Tại thành phố Huế ở Việt Nam, vào ngày Phật Đản không ai giết một con gà, một con vịt. Ngày đó tất cả mọi người đều ăn chay, khi ra chợ những người bán hàng cũng chỉ bán đồ chay thôi. Đó là một ngày không sát sinh. Trong ngày Phật Đản và từ trước đó, nhiều người đã thả chim, thả cá tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho nhiều loài hữu tình. Đó là cách thực tập từ bi để báo ơn Bụt. Ngày này, chúng ta thực tập từ bi bằng nhiều cách: Không sát sinh mà lại phóng sinh, không trừng phạt mà lại tha thứ. Ngày Phật Đản là một cơ hội để cho các nhà cầm quyền có cơ hội phóng thích tù nhân.
Có một người sinh cách đây 2600 năm mà cách sống của người ấy vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội loài người, người đó phải có một nhân cách rất vĩ đại. Chính vì vậy cho nên chúng ta xưng tụng người đó là Đức Từ Bi. Những người Phật tử sống ở châu Âu và châu Mỹ đã chấp nhận ngày Giáng Sinh là một ngày lễ của người Phật tử. Đối với người Phật tử thì không khó khăn gì để chấp nhận đức Kitô là một vị Bồ Tát. Vì vậy người Phật tử sẵn sàng để ăn Noel. Thay vì giết một con gà lôi (gà tây) để ăn Noel thì người Phật tử ở phương Tây lại ăn chay để khỏi phải sát sinh. Nếu người Phật tử cứ thực tập như vậy một hồi thì ở châu Âu và châu Mỹ người ta sẽ chuyển hướng, họ cũng sẽ không giết một con gà lôi mỗi khi ngày Giáng Sinh tới.
Ở Việt Nam, ngày này Phật tử làm lễ đài rất lớn, có những xe hoa được trang hoàng công phu. Nhưng phải làm sao để đừng bị tốn kém, đừng phung phí, vì thiểu dục vốn là một truyền thống của Phật giáo. So với lễ Noel thì lễ Phật Đản ít tốn kém hơn nhiều. Nếu quý vị Phật tử ở các nước châu Âu, châu Mỹ mà làm lễ Noel cho đàng hoàng theo tinh thần Phật Đản thì sẽ gieo được những hạt giống tốt. Các thân hữu Kitô sau này cũng sẽ chịu ảnh hưởng và sẽ tôn trọng sinh mạng của các loài cầm thú và cỏ cây.
Chúng ta là những người con Bụt, đã quy y, tức là đã quay về nương tựa Bụt. Nhưng từ nhỏ tới lớn chúng ta đã có nhiều quan niệm về Bụt khác nhau, cái quan niệm về Bụt của chúng ta cứ thay đổi hoài. Khi còn là một em bé, quan niệm về Bụt của chúng ta khác. Lớn lên, tìm hiểu, đọc sách về Bụt thì quan niệm của chúng ta về Ngài lại khác hơn. Theo năm tháng, ý niệm của chúng ta về Bụt ngày một thay đổi. Nếu tu tập tinh tấn thì tới một ngày nào đó chúng ta có một ý niệm về Bụt rất gần với sự thật. Ví dụ mình tu hành sáu mươi năm, hay sáu mươi lăm năm thì mình có thể trải qua bẩy mươi hay tám mươi cái quan niệm về Bụt. Nhưng nhờ sự tu chứng, mình sẽ đi qua một cái ý niệm về Bụt sát với sự thật hơn. Nếu mình có một quan niệm về Bụt thì có thể quan niệm đó chưa gần với sự thật lắm đâu. Chúng ta phải sẵn sàng để buông bỏ cái ý niệm đó đi.
Trong Cơ Đốc giáo cũng như Phật giáo, người ta nghĩ đến đức Kitô hay đức Thích Ca với những tư liệu mà người ta có được trong Thánh Kinh và trong Kinh Bụt, rồi dựa vào những tư liệu đó mỗi người có một ý niệm về Chúa hay về Bụt cho riêng mình.
Cái đó cũng đúng thôi, nếu chúng ta thực tập cho sâu sắc thì chúng ta biết rằng Bụt cũng vô thường mà Chúa cũng vô thường. Vô thường đây không có nghĩa là sau khi chết không còn nữa, vô thường đây có nghĩa là sau khi chết thì vẫn tiếp tục, nhưng tiếp tục dưới hình thức khác. Cho nên đi tìm Chúa, đi tìm Bụt là trách vụ của người tu học. Mà tìm Bụt ở đâu? Tìm Chúa ở đâu? Bụt và Chúa có phải là những thực tại nằm ngoài chúng ta không? Đó là vấn đề cần phải đặt ra.
Chúng ta có một hình ảnh về đức Thích Ca qua những tư liệu mà chúng ta thu nhập được từ kinh điển. Đó là hình ảnh một vị thái tử thành Ca Tỳ La Vệ, lớn lên trong nhung lụa, tới khi trưởng thành thì bỏ nhà đi xuất gia, tu khổ hạnh, sau đó thành đạo và đi thuyết pháp bốn mươi chín năm. Đó là hình ảnh về đức Thích Ca của chúng ta. Khi tạc tượng hay vẽ hình thì chúng ta căn cứ trên dữ liệu đó. Ta phải biết rằng đó chỉ là hình ảnh đầu của đức Thích Ca mà thôi, sau khi Ngài nhập diệt thì hình ảnh đó trở nên khác. Cho nên mình phải thực tập như thế nào để đừng bị dính mắc vào cái hình ảnh của Bụt mà mình đã tạo dựng ra từ những tư liệu mà mình đã sử dụng trong kinh điển.
Ban đầu thì đó là sự thật hết, chúng ta cần có một hình ảnh, và những hình ảnh đó mình tìm thấy được trong kinh điển. Chúng ta cần cái hình ảnh, nhưng nếu chúng ta bị vướng mắc vào cái hình ảnh đó và nghĩ rằng Bụt bây giờ cũng vẫn như xưa thì chúng ta sai lầm. Nếu cứ tưởng rằng Bụt bây giờ vẫn giống như Bụt của hai ngàn sáu trăm năm trước, rằng sau khi chết tướng của Ngài không thay đổi, Ngài vẫn đang ở đâu đó trên trời hay dưới biển thì chúng ta lầm to. Chúng ta bị rơi vào một cái kiến chấp gọi là thường kiến. Còn nếu nói rằng: Sau khi chết Bụt không còn nữa thì đó là rơi vào đoạn kiến. Mà rơi vào đoạn kiến hay thường kiến thì cũng đều sai lầm cả.
Vậy thì chúng ta phải đi tìm Bụt như thế nào để thấy được Bụt, để tiếp xúc được với Bụt như là một thực tại mà không phải là một ý niệm. Nếu quý vị tới từ truyền thống Cơ Đốc giáo thì quý vị cũng biết như vậy. Nếu mình đi tìm Bụt như thế nào thì mình cũng đi tìm Chúa như thế. Nếu mình kẹt vào ý niệm thường thì mình không tìm được Bụt, được Chúa; mình kẹt vào ý niệm đoạn thì mình cũng không tìm thấy Chúa, thấy Bụt. Cái ý niệm đó nó giam hãm mình.
Trong cuốn Sám Pháp Địa Xúc, đoạn đầu chúng ta quán Bụt như một vị thái tử, có vợ, có con rồi đi xuất gia và thành đạo. Nhưng phần tiếp theo của cuốn sách, chúng ta đã đi khá hơn, chúng ta đã thấy được sự tiếp nối của Bụt sau khi thành đạo. Thấy được hình ảnh giáo đoàn của Ngài, và sau nữa thấy được hình ảnh của Bụt khi Ngài già yếu. Đó chính là một phương pháp hành trì gọi là quán Bụt, tức là nhìn sâu để thấy được Bụt. Ban đầu thì mình có thể nương vào những hình ảnh của Bụt mà mình có được từ những tư liệu trong kinh điển. Nhưng sau đó mình phải đi xa hơn. Mình phải thấy cái hình ảnh ban đầu đó nó vô thường, và mình phải tìm thấy sự tiếp nối của Bụt một cách rõ ràng, chắc chắn mà đừng nương vào những tưởng tượng.
Đọc kinh điển chúng ta thấy rất rõ Bụt là một con người mà không phải là một vị thần linh. Nếu chúng ta nghĩ Bụt là một vị thần linh không hề thay đổi thì chúng ta lạc vào tà kiến. Chúng ta biết rằng không phải khi hình hài của chúng ta tan rã thì chúng ta mới bắt đầu tiếp tục, mà chúng ta tiếp tục ngay trong khi hình hài này còn nguyên vẹn chưa bị tan rã.
Tại Làng Mai chúng ta đã từng nghe nhiều lần câu nói: “Trong từng giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động”. Không có giây phút nào mà chúng ta không chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động. Những tư duy, ngôn ngữ hành động đó mang chữ ký của chúng ta, đó là ba nghiệp. Đó là sự nối tiếp rất đích thực, rất cụ thể của mỗi chúng ta.
Bụt cũng vậy, Bụt cũng có sự tiếp nối bằng những tư duy, ngôn ngữ và hành động của Ngài. Đọc trong kinh chúng ta thấy được những tư duy của Bụt. Những tư duy của Ngài được ghi chép lại, được diễn tả bằng một cái cách nào đó, một ngôn ngữ nào đó. Nếu chúng ta thông minh một chút, chúng ta không bị mắc kẹt thì chúng ta có thể tiếp xúc được với cái tư duy của Bụt. Những tư duy của Bụt được gọi là Chánh Tư Duy. Tức là những tư duy đi theo Chánh Kiến. Chánh Kiến là tuệ giác về vô thường, vô ngã, tương tức, bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Có những tư tưởng ghi chép trong kinh có thể chưa phản chiếu được cái tuệ giác thâm sâu đó (tuệ giác vô thường, vô ngã, vô khứ, vô lai, vô sinh bất diệt). Nhưng nó cũng có thể là những tư duy của Bụt tại vì tư duy cũng có nhiều cấp bậc. Có những người chưa thể đi sâu vào sự quán chiếu thì cần cái tư duy đơn giản hơn để bám víu vào mà đi tới.
Ví dụ khi chúng ta niệm Bụt thì đức Thế Tôn là thầy của chúng ta. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu; là bậc đã hiểu thấu thế gian; là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người; là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân; là bậc tỉnh thức toàn vẹn; là bậc đáng tôn sùng và quý trọng nhất trên đời. Đó là những quan niệm về Bụt. Đó là những đức tính của Bụt, là những danh hiệu mà người ta nói về Ngài. Nhưng nếu ta quan niệm về Bụt như vậy thì Bụt trở thành một cái ngã, một thực tại nằm ngoài ta và ta phải cầu nguyện vì ta không có những cái đó. Như thế thì chúng ta chưa đi sâu lắm. Đó chưa phải là tư duy đi đôi với tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức.
Trong khi chúng ta chắp tay lại quán tưởng thì chúng ta nói rằng: “Bụt ơi! Con biết rằng Ngài và con là hai thực tại, nhưng không phải riêng biệt. Con thấy rõ ràng là Ngài có trong con và con cũng có trong Ngài. Tại vì Ngài và con đều có tính cách tương tức, cho nên sự cảm thông giữa con với Ngài trở thành sâu sắc." Đó là một phép quán tưởng trước khi lạy để mình có thể tiếp xúc được với tự thân của Bụt chứ không phải với cái ý niệm về Bụt. “Năng lễ sở lễ tính không tịch” tức là chủ thể lạy (mình) và đối tượng lạy (Bụt) bản chất đều là không. Không tức là không có một cái ngã riêng biệt mà cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này. Bụt có trong ta và ta có trong Bụt. Lễ Bụt như vậy sẽ đánh tan được cái ý niệm Bụt là một thực tại riêng biệt nằm ngoài mình và mình phải đi cầu xin, tìm kiếm.
Các bạn theo truyền thống Cơ Đốc giáo cũng có thể cầu nguyện với Chúa Giêsu như vậy. Nếu các bạn thấy Chúa như là một thực tại hoàn toàn khác biệt nằm bên ngoài mình thì các bạn không tiếp xúc được với thực tại hiện tiền. Hôm trước có một vị linh mục Công giáo đặt câu hỏi như sau: "Tại sao trong đạo Bụt không thiết lập một biểu tượng ở ngoài mình để cầu nguyện? Cầu nguyện như vậy mới có ý nghĩa chứ."
Vị linh mục ấy đã hỏi tôi như vậy. Ý ông ta là cầu nguyện thì phải có đối tượng. Cầu nguyện phải là cầu nguyện với ai. Tôi đã trả lời rằng: Mình có thể nói chuyện với em bé 5 tuổi ở trong mình hay không? Em bé 5 tuổi cũng là mình, em bé 5 tuổi bị thương rất nặng, nhưng vì mình bận rộn quá nên không có thời gian đoái hoài tới. Bây giờ mình đã biết quay trở về để nhận diện em bé 5 tuổi trong mình. Khi mình muốn nói chuyện với em bé thì liền nói chuyện được ngay chứ sao không. Em bé đó với mình là một hay hai? Mình có thể so sánh bức ảnh của mình khi lên năm và một bức ảnh mới nhất của mình trong hiện tại và hỏi: Em bé năm tuổi là tôi ấy với tôi đã trưởng thành là một hay là hai? Theo tuệ giác của đạo Bụt thì hai con người ấy không phải một cũng không phải hai. Em bé nhỏ xíu đó không giống mình bây giờ. Em bé đó với mình không phải là một (vì không giống nhau), nhưng mà cũng không phải là hai (vì mình là sự tiếp nối của em bé). Mình có thể nói chuyện với em bé rằng: “Em bé ơi tôi biết là em bé đang còn đó, em bé đã từng bị thương tích, đã từng bị khổ đau, em bé cần tới tôi, em bé cần sự nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mà tôi bận rộn quá, tôi ít có thì giờ trở về với em bé, nói chuyện với em bé."
Đó là nói chuyện, đó là một sự cầu nguyện. Em bé đó không cần phải là một thực tại ngoài ta. Cho nên sự cầu nguyện là như vậy.
Khi cầu nguyện Bụt hay Chúa cũng vậy. Ta không hẳn phải có một đấng hoàn toàn ở ngoài ta thì mới cầu nguyện được. Vì vậy cho nên trong đạo Bụt mỗi khi mình chắp tay lạy Bụt thì phải cẩn thận. Đừng có coi Bụt là một vị thần linh có ở ngoài mình. Câu quán tưởng “năng lễ sở lễ tánh không tịch” rất là hay. Người lạy và người được lạy đều có tính cách tương tức, người này có trong người kia, vì vậy cho nên sự cảm thông mới có thể có được và có một cách sâu sắc. Lạy Bụt như vậy không phải là một cái sự cầu xin, không phải là một quỵ lụy. Lạy Bụt như vậy là để tiếp xúc với Bụt, mà Bụt này không phải là một thực tại nằm ở ngoài mình, Bụt này cũng chính là mình.
Mỗi khi ta chế tác được một chánh tư duy, một tư tưởng mà biểu lộ được tuệ giác vô thường, vô ngã, từ bi, trí tuệ và tương tức thì ta là Bụt. Khi ta chế tác một tư tưởng hận thù, kỳ thị, hay ganh tỵ thì ta không phải là Bụt. Khi ta nói ra được lời nói có yêu thương, có tha thứ, gây được niềm tin cho người thì ta là Bụt. Khi ta nói một câu dữ dằn, ác độc, chua cay thì ta không phải là Bụt. Tại vì Bụt cũng ở trong ta mà ma cũng ở trong ta. Và sự thực tập là làm thế nào để ta có nhiều cơ hội chế tác ra chánh tư duy. Những tư duy có từ bi, có hiểu biết, có thương yêu mà không có kỳ thị, ganh tỵ; làm sao để mỗi giây phút ta nói ra được lời thương yêu; làm sao để mỗi giây phút có được một hành động chăm sóc, bảo vệ thì mình là Bụt rồi, đi kiếm Bụt đâu nữa! Cho nên tổ Lâm Tế mới nói: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”. Khi ta chế tác ra được một chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp tức là mình đã là Bụt rồi, tại sao phải đi tìm đâu xa xôi. Vì vậy cho nên Bụt tại tâm là rất đúng.
Ta thấy rõ ràng là ta tìm thấy Bụt ngay trong tự tâm của mình, mà ta cũng tìm thấy Bụt ở trong tăng thân của mình. Tăng thân của mình là gì? Tăng thân là một đoàn thể đang thực tập để có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tăng thân của ta có thể không hoàn hảo, nó còn có lên xuống, còn khổ đau, còn hờn giận… Nhưng tất cả mọi người trong tăng thân đều có ý chí muốn tu học. Cho nên người nào tu giỏi thì có thể mỗi ngày chế tác ra được nhiều chánh tư duy, nhiều chánh ngữ và nhiều chánh nghiệp. Thì người ấy đang đại diện cho Bụt, đang tiếp nối Bụt, đang cống hiến chất Bụt cho tất cả những người khác trong tăng thân. Đó là Bụt. Những người xuất sĩ nam hay xuất sĩ nữ, những người tại gia nam hay tại gia nữ, người nào mà thực tập chánh niệm hay chánh định; người nào mà nhìn sâu để có một cái thấy biểu lộ được tính vô thường, vô ngã, tương tức, không kỳ thị và chế tác được những tư duy có chất từ, chất bi, chất hỷ, chất xả thì người đó là một sự tiếp nối của Bụt. Bụt không ở đâu xa, Bụt rất rõ ràng và cụ thể và mình có thể tiếp xúc với Bụt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Mỗi khi có những khó khăn, những buồn khổ kéo tới thì mình nói: “Bụt ơi! Con biết Ngài có đó, con muốn tiếp xúc với Ngài để cho con khỏe nhẹ”.
Với phương pháp theo dõi hơi thở và bước chân, ta ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Bụt cũng vậy, khi nào có những nỗi khổ niềm đau thì Ngài biết trở về với hơi thở. Và hơi thở đó giúp cho Bụt ôm ấp và lìa bỏ được những nỗi khổ niềm đau của mình.
Quý vị cũng vậy, mỗi khi quý vị có một sự bất an trong lòng, có một chướng ngại làm cho mình không có hạnh phúc thì cách hay nhất là trở về hơi thở. Hơi thở giúp mình chạm được vào nỗi khổ niềm đau, chạm được vào cái cảm giác bất an, mông lung của mình để ôm ấp và chuyển hóa. Không những mình tiếp xúc được bằng hơi thở mà mình còn có thể tiếp xúc được bằng bước chân. Rất là hay.
Bụt cũng có thể có những khó khăn, khó khăn của Bụt cũng có thể đến từ bên trong hoặc từ bên ngoài. Nhưng mỗi khi có khó khăn tới thì Bụt biết tiếp xúc với những khó khăn ấy và mỉm cười với chúng rồi tìm cách chuyển hóa chúng. Nếu khi những khổ đau tìm tới với ta mà ta biết sử dụng hơi thở và bước chân để chạm vào và xoa dịu những khổ đau ấy thì ta cũng đang là một vị Bụt. Còn nếu khổ đau tới với ta mà ta không biết thực tập thì ta không phải là Bụt. Bụt có mặt 24 giờ đồng hồ trong một ngày.
Thế nên trong ngày lễ Phật Đản, chúng ta có cơ hội quán chiếu để thấy rằng có thể tiếp xúc với Bụt một cách rất cụ thể. Tôi nghĩ rằng nếu thấy được Bụt như vậy rồi thì Bụt không còn là một cái gì mơ hồ nữa, không còn là một đấng thần linh ở trên mây nữa. Chúng ta là đệ tử của thiền sư Lâm Tế thì chúng ta phải nhớ lời này: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”.
Mỗi chúng ta đều có khả năng ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của mình và giúp cho người khác ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của họ. Chúng ta đang làm công việc của Bụt, chúng ta đang là sự tiếp nối của Bụt.
Mỗi chúng ta đều có khả năng chế tác ra những tư duy lành, những ngôn ngữ lành và những hành động lành, đó là chúng ta đang nối tiếp sự nghiệp của Bụt – sự nghiệp thương yêu, sự nghiệp hiểu biết, sự nghiệp từ bi. Ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều đó.
Thông thường, Bụt ở đâu thì quốc độ của Ngài ở đó. Ngài đi tới đâu cũng mang theo quốc độ của mình. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng là Bụt, chúng ta là sự tiếp nối của Ngài nên chúng ta cũng phải có cõi Bụt quanh mình. Ví dụ ta ngồi nhìn ra cửa sổ thấy mùa xuân vẫn còn đang phơi phới, cỏ cây xanh mướt, hoa đua nhau khoe sắc thắm, ta thấy những thứ đó rất mầu nhiệm. Tiếp xúc được với những mầu nhiệm đó thì ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ quá. Ta có thể ngồi trên một góc cỏ nhìn ngắm mọi thứ trong tâm trạng không có đau buồn. Ta ngắm một cái lá sen, ngắm một cái lá tre trong bình an thì lúc đó ta là Bụt.
Nếu bị giam hãm trong những cơn buồn giận, ta không tiếp xúc được với những mầu nhiệm của thiên nhiên thì ta không phải là Bụt, ta đang không có cõi Bụt bao quanh. Bụt ở đâu thì cõi Bụt ở đó. Khi ta có an lạc, hạnh phúc thì quang cảnh xung quanh cũng có an lạc, hạnh phúc. Khi một sư anh, sư chị hay sư em không dễ thương mà mình ôm được cái không dễ thương đó, mình nhìn sư anh, sư chị, sư em của mình với con mắt từ bi thì mình là Bụt và sư anh, sư chị, sư em ấy là cõi Bụt của mình. Nhìn bằng con mắt từ bi thì mình khỏe và cõi của mình trở thành cõi tịnh độ. Nhìn bằng con mắt đau buồn trách móc thì mình không phải là Bụt và cõi xung quanh của mình không phải là cõi Bụt. Đó là sự thực tập của chúng ta. Một tăng thân được thiết lập ra là để tiếp nối Bụt.
Một người thực tập cũng là sự tiếp nối của Bụt. Nhưng nếu được sống trong tăng thân, được cùng tăng thân thực tập thì chúng ta sẽ được che chở, được yểm trợ nhiều hơn. Vì vậy tu tập mà có tăng thân thì dễ dàng hơn rất nhiều. Nương vào anh, vào chị, vào em, và vào những người bạn đồng tu để mỗi giây phút mình có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Khi chế tác ra được ba cái đó thì trong người mình có Bụt và xung quanh mình là cõi Bụt. Còn khi chế tác ra những chất liệu ngược lại thì trong người mình không có Bụt và xung quanh mình cũng không có cõi Bụt.
Chúng ta có thể đã từng nghĩ rằng các chương trình sinh hoạt tại Làng Mai khá dày đặc: Buổi sáng phải thức dậy sớm đi ngồi thiền, phải ăn sáng, làm việc, đi thiền hành, ăn trưa, rồi đi theo các lớp học, rồi ăn chiều, rồi lại ngồi thiền tụng kinh vào buổi tối. Vừa kết thúc khóa tu hai mươi mốt ngày đã sang khóa tu mùa hè, rồi đi Ý, đi Đức, đi Đông Nam Á… Giống như không có thì giờ để chơi. Chúng ta có cảm tưởng như là chúng ta bị một sức ép phải đi theo. Chúng ta cảm thấy chúng ta không có đủ không gian. Khi chúng ta cảm thấy mình bị ép theo thời khóa, chúng ta cảm thấy mình thiếu không gian, thì trong chúng ta lúc ấy không có Bụt, không có tăng thân và hoàn cảnh xung quanh ta cũng không phải là cõi Bụt.
Ở đời có những người rất thích hát. Họ không có phải là người tu nhưng buổi sáng thức dậy họ muốn hát một bài. Trong khi xả nước tắm, họ vừa tắm vừa hát. Nhưng có những người khác khi thức dậy không hát được, lúc tắm họ cũng không hát được, tại vì họ bị kéo đi bởi hàng trăm thứ lo toan, dự tính trong lòng. Thường thì đó đều là những lo toan không đáng có như tại sao mình cứ phải dậy sớm đi làm? Không biết hôm nay ở công ty ra sao? Chết rồi, tí nữa phải nhớ đi đổ xăng v.v… Cùng thức dậy vào buổi sáng nhưng hai người này khác nhau: một người thì có niềm vui trong lòng do biết an trú, một người thì không có niềm vui do bị những lo toan kéo đi. Khi ta có niềm vui trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Bụt. Khi có phiền não trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Ta Bà.
Trong tu viện, mỗi sáng ta đều thức dậy đi ngồi thiền. Ngồi thiền làm cái gì? Ngồi thiền tức là khỏi làm gì hết, lúc ấy không có ai sai mình phải làm cái này hay làm cái kia. Chỉ ngồi yên thôi thì sướng biết bao nhiêu. Thử hỏi trên thế gian này có biết bao nhiêu người thức dậy được ngồi yên trong vòng nửa giờ hay một giờ? Được ngồi thiền rất yên vào buổi sáng giống như có tiếng hát trong lòng và ngồi thiền không phải là một cái áp lệnh nữa, mà là một niềm vui. Khi ngồi thiền mình có thể tiếp xúc được với Thầy, với sư anh, sư chị hoặc sư em đang ngồi chung với mình và mình được nuôi dưỡng. Cũng như có người khi thức dậy mở cửa sổ ra là có thể hát được. Ta cũng vậy. Khi thức dậy ta thấy được ngồi thiền, được đi thiền hành là một niềm vui. Ngồi thiền và đi thiền hành đó không phải là công việc, không phải là một áp lực, không phải là lao tác cực nhọc mà mình phải trả nợ như là một người công dân.
Ở bên ngoài đa phần mọi người đều rất bận rộn không có cả thời gian để ngồi yên, trong khi đó tại tu viện, mỗi ngày chúng ta đều được ngồi yên không phải làm gì cả, đó là những cơ hội rất quý. Thế nhưng có lúc ta lại cảm thấy đó là một sự lao tác mệt nhọc, cảm thấy bị ép buộc. Khi ngồi thiền hay đi thiền hành mà ta biết cách an trú trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở thì ta có an lạc, thảnh thơi. Lúc ấy ngồi thiền như là ngồi chơi, đi thiền hành như là đi chơi và xung quanh ta là cõi Bụt. Còn khi ngồi thiền hay đi thiền hành với tâm trạng bị ép uổng thì rất tội nghiệp và rất uổng.
Trong cùng một khung cảnh nhưng có người thì thảnh thơi, thư thái, có người lại cảm thấy gò bó, cảm thấy không có không gian, không có thời gian để sống cho mình. Có những người thấy rất hạnh phúc được ngồi thiền, được đi thiền hành, được nấu cơm cho đại chúng, được tổ chức và hướng dẫn khóa tu v.v... Trong khi đó lại có những người cảm thấy phải ngồi thiền, phải đi thiền hành, phải tổ chức khóa tu. Đối với những người ấy thì ngồi thiền, thiền hành không phải để sống cho mình, quét nhà, làm vườn không phải để sống cho mình. Cho nên tất cả là tùy theo cách mình nhìn. Cũng giống như ở ngoài, có nhưng người họ rất thích đi làm vì họ yêu nghề. Lại có những người rất ngao ngán khi thức dậy thấy có một ngày làm việc trước mặt.
Thiền Sư Lâm Tế có nói với chúng ta rằng: “Quý vị đừng có tưởng tượng quá, đừng có nghĩ rằng cung trời Đâu Suất và đức Di Lặc ở trên mây. Quý vị đừng đi tìm báo thân, pháp thân, ứng thân và cũng đừng đi tìm Tịnh Độ, mất thời gian lắm. Quý vị chính là Bụt là Bồ Tát đó, nếu quý vị nhận ra được đời sống là những cái nhiệm mầu”.
Có sáu đạo thần quang tức là sáu thức khiến cho mình có thể tiếp xúc được với tất cả những cái mầu nhiệm đó. Cung trời Đâu Suất của đức Bụt Di Lặc, hay cõi Tịnh Độ hay tam giới có mặt hiện tiền để mình có thể tiếp xúc liền ngay được. Tam giới là tam giới của mình chứ đâu nữa? Người ta lặp đi lặp lại một cách máy móc câu: “Tôi tu học để mau thoát khỏi tam giới”. Tổ Lâm Tế nói: “Đừng nói rằng quý vị đi tu là để thoát khỏi tam giới (cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc). Thoát khỏi tam giới thì quý vị đi đâu. Ở ngay trong tam giới này đã có đủ Bụt, Pháp, Tăng, có Tịnh Độ, cõi Bụt, có đủ hết”. Khi tâm mình có ham muốn thì tức là mình đang ở trong cõi dục. Khi tâm có từ bi, hiểu biết thì mình đang ở trong cõi bồ tát, cõi Bụt.
Chúng ta đã có cơ hội được nghe những lời giảng, những lời khai thị rất nhiệm mầu của chư Tổ. Và chúng ta có cơ hội để được sống thật sâu sắc những giây phút của đời sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể tiếp nối sự nghiệp của chư Bụt. Chư Bụt rất gần chúng ta để được tiếp nối một cách đẹp đẽ.
http://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/u-nghia-phat-dan
Ý Nghĩa Phật Đản
Thiền sư Thích Nhất Hạnh
Pháp thoại 22-05-2005
Có những nước Á Châu như nước Xilanca (Sri Lanka, Tích Lan), vào ngày Phật Đản không có ai bị đói bụng hết. Tại vì nhà nào cũng để mâm cơm ở trước cửa và bất cứ ai đói bụng cũng đều được mời ăn cơm đó. Trong ngày Phật Đản không có ai bị đói vì nhà nào cũng cúng dường cơm, chùa nào cũng cúng dường cơm. Đây là một truyền thống có từ mấy ngàn năm trước, từ thời Đức Thế Tôn.
Tại thành phố Huế ở Việt Nam, vào ngày Phật Đản không ai giết một con gà, một con vịt. Ngày đó tất cả mọi người đều ăn chay, khi ra chợ những người bán hàng cũng chỉ bán đồ chay thôi. Đó là một ngày không sát sinh. Trong ngày Phật Đản và từ trước đó, nhiều người đã thả chim, thả cá tạo niềm vui và hiến dâng sự sống cho nhiều loài hữu tình. Đó là cách thực tập từ bi để báo ơn Bụt. Ngày này, chúng ta thực tập từ bi bằng nhiều cách: Không sát sinh mà lại phóng sinh, không trừng phạt mà lại tha thứ. Ngày Phật Đản là một cơ hội để cho các nhà cầm quyền có cơ hội phóng thích tù nhân.
Có một người sinh cách đây 2600 năm mà cách sống của người ấy vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội loài người, người đó phải có một nhân cách rất vĩ đại. Chính vì vậy cho nên chúng ta xưng tụng người đó là Đức Từ Bi. Những người Phật tử sống ở châu Âu và châu Mỹ đã chấp nhận ngày Giáng Sinh là một ngày lễ của người Phật tử. Đối với người Phật tử thì không khó khăn gì để chấp nhận đức Kitô là một vị Bồ Tát. Vì vậy người Phật tử sẵn sàng để ăn Noel. Thay vì giết một con gà lôi (gà tây) để ăn Noel thì người Phật tử ở phương Tây lại ăn chay để khỏi phải sát sinh. Nếu người Phật tử cứ thực tập như vậy một hồi thì ở châu Âu và châu Mỹ người ta sẽ chuyển hướng, họ cũng sẽ không giết một con gà lôi mỗi khi ngày Giáng Sinh tới.
Ở Việt Nam, ngày này Phật tử làm lễ đài rất lớn, có những xe hoa được trang hoàng công phu. Nhưng phải làm sao để đừng bị tốn kém, đừng phung phí, vì thiểu dục vốn là một truyền thống của Phật giáo. So với lễ Noel thì lễ Phật Đản ít tốn kém hơn nhiều. Nếu quý vị Phật tử ở các nước châu Âu, châu Mỹ mà làm lễ Noel cho đàng hoàng theo tinh thần Phật Đản thì sẽ gieo được những hạt giống tốt. Các thân hữu Kitô sau này cũng sẽ chịu ảnh hưởng và sẽ tôn trọng sinh mạng của các loài cầm thú và cỏ cây.
Chúng ta là những người con Bụt, đã quy y, tức là đã quay về nương tựa Bụt. Nhưng từ nhỏ tới lớn chúng ta đã có nhiều quan niệm về Bụt khác nhau, cái quan niệm về Bụt của chúng ta cứ thay đổi hoài. Khi còn là một em bé, quan niệm về Bụt của chúng ta khác. Lớn lên, tìm hiểu, đọc sách về Bụt thì quan niệm của chúng ta về Ngài lại khác hơn. Theo năm tháng, ý niệm của chúng ta về Bụt ngày một thay đổi. Nếu tu tập tinh tấn thì tới một ngày nào đó chúng ta có một ý niệm về Bụt rất gần với sự thật. Ví dụ mình tu hành sáu mươi năm, hay sáu mươi lăm năm thì mình có thể trải qua bẩy mươi hay tám mươi cái quan niệm về Bụt. Nhưng nhờ sự tu chứng, mình sẽ đi qua một cái ý niệm về Bụt sát với sự thật hơn. Nếu mình có một quan niệm về Bụt thì có thể quan niệm đó chưa gần với sự thật lắm đâu. Chúng ta phải sẵn sàng để buông bỏ cái ý niệm đó đi.
Trong Cơ Đốc giáo cũng như Phật giáo, người ta nghĩ đến đức Kitô hay đức Thích Ca với những tư liệu mà người ta có được trong Thánh Kinh và trong Kinh Bụt, rồi dựa vào những tư liệu đó mỗi người có một ý niệm về Chúa hay về Bụt cho riêng mình.
Cái đó cũng đúng thôi, nếu chúng ta thực tập cho sâu sắc thì chúng ta biết rằng Bụt cũng vô thường mà Chúa cũng vô thường. Vô thường đây không có nghĩa là sau khi chết không còn nữa, vô thường đây có nghĩa là sau khi chết thì vẫn tiếp tục, nhưng tiếp tục dưới hình thức khác. Cho nên đi tìm Chúa, đi tìm Bụt là trách vụ của người tu học. Mà tìm Bụt ở đâu? Tìm Chúa ở đâu? Bụt và Chúa có phải là những thực tại nằm ngoài chúng ta không? Đó là vấn đề cần phải đặt ra.
Chúng ta có một hình ảnh về đức Thích Ca qua những tư liệu mà chúng ta thu nhập được từ kinh điển. Đó là hình ảnh một vị thái tử thành Ca Tỳ La Vệ, lớn lên trong nhung lụa, tới khi trưởng thành thì bỏ nhà đi xuất gia, tu khổ hạnh, sau đó thành đạo và đi thuyết pháp bốn mươi chín năm. Đó là hình ảnh về đức Thích Ca của chúng ta. Khi tạc tượng hay vẽ hình thì chúng ta căn cứ trên dữ liệu đó. Ta phải biết rằng đó chỉ là hình ảnh đầu của đức Thích Ca mà thôi, sau khi Ngài nhập diệt thì hình ảnh đó trở nên khác. Cho nên mình phải thực tập như thế nào để đừng bị dính mắc vào cái hình ảnh của Bụt mà mình đã tạo dựng ra từ những tư liệu mà mình đã sử dụng trong kinh điển.
Ban đầu thì đó là sự thật hết, chúng ta cần có một hình ảnh, và những hình ảnh đó mình tìm thấy được trong kinh điển. Chúng ta cần cái hình ảnh, nhưng nếu chúng ta bị vướng mắc vào cái hình ảnh đó và nghĩ rằng Bụt bây giờ cũng vẫn như xưa thì chúng ta sai lầm. Nếu cứ tưởng rằng Bụt bây giờ vẫn giống như Bụt của hai ngàn sáu trăm năm trước, rằng sau khi chết tướng của Ngài không thay đổi, Ngài vẫn đang ở đâu đó trên trời hay dưới biển thì chúng ta lầm to. Chúng ta bị rơi vào một cái kiến chấp gọi là thường kiến. Còn nếu nói rằng: Sau khi chết Bụt không còn nữa thì đó là rơi vào đoạn kiến. Mà rơi vào đoạn kiến hay thường kiến thì cũng đều sai lầm cả.
Vậy thì chúng ta phải đi tìm Bụt như thế nào để thấy được Bụt, để tiếp xúc được với Bụt như là một thực tại mà không phải là một ý niệm. Nếu quý vị tới từ truyền thống Cơ Đốc giáo thì quý vị cũng biết như vậy. Nếu mình đi tìm Bụt như thế nào thì mình cũng đi tìm Chúa như thế. Nếu mình kẹt vào ý niệm thường thì mình không tìm được Bụt, được Chúa; mình kẹt vào ý niệm đoạn thì mình cũng không tìm thấy Chúa, thấy Bụt. Cái ý niệm đó nó giam hãm mình.
Trong cuốn Sám Pháp Địa Xúc, đoạn đầu chúng ta quán Bụt như một vị thái tử, có vợ, có con rồi đi xuất gia và thành đạo. Nhưng phần tiếp theo của cuốn sách, chúng ta đã đi khá hơn, chúng ta đã thấy được sự tiếp nối của Bụt sau khi thành đạo. Thấy được hình ảnh giáo đoàn của Ngài, và sau nữa thấy được hình ảnh của Bụt khi Ngài già yếu. Đó chính là một phương pháp hành trì gọi là quán Bụt, tức là nhìn sâu để thấy được Bụt. Ban đầu thì mình có thể nương vào những hình ảnh của Bụt mà mình có được từ những tư liệu trong kinh điển. Nhưng sau đó mình phải đi xa hơn. Mình phải thấy cái hình ảnh ban đầu đó nó vô thường, và mình phải tìm thấy sự tiếp nối của Bụt một cách rõ ràng, chắc chắn mà đừng nương vào những tưởng tượng.
Đọc kinh điển chúng ta thấy rất rõ Bụt là một con người mà không phải là một vị thần linh. Nếu chúng ta nghĩ Bụt là một vị thần linh không hề thay đổi thì chúng ta lạc vào tà kiến. Chúng ta biết rằng không phải khi hình hài của chúng ta tan rã thì chúng ta mới bắt đầu tiếp tục, mà chúng ta tiếp tục ngay trong khi hình hài này còn nguyên vẹn chưa bị tan rã.
Tại Làng Mai chúng ta đã từng nghe nhiều lần câu nói: “Trong từng giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động”. Không có giây phút nào mà chúng ta không chế tác những tư duy, những ngôn ngữ, những hành động. Những tư duy, ngôn ngữ hành động đó mang chữ ký của chúng ta, đó là ba nghiệp. Đó là sự nối tiếp rất đích thực, rất cụ thể của mỗi chúng ta.
Bụt cũng vậy, Bụt cũng có sự tiếp nối bằng những tư duy, ngôn ngữ và hành động của Ngài. Đọc trong kinh chúng ta thấy được những tư duy của Bụt. Những tư duy của Ngài được ghi chép lại, được diễn tả bằng một cái cách nào đó, một ngôn ngữ nào đó. Nếu chúng ta thông minh một chút, chúng ta không bị mắc kẹt thì chúng ta có thể tiếp xúc được với cái tư duy của Bụt. Những tư duy của Bụt được gọi là Chánh Tư Duy. Tức là những tư duy đi theo Chánh Kiến. Chánh Kiến là tuệ giác về vô thường, vô ngã, tương tức, bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai. Có những tư tưởng ghi chép trong kinh có thể chưa phản chiếu được cái tuệ giác thâm sâu đó (tuệ giác vô thường, vô ngã, vô khứ, vô lai, vô sinh bất diệt). Nhưng nó cũng có thể là những tư duy của Bụt tại vì tư duy cũng có nhiều cấp bậc. Có những người chưa thể đi sâu vào sự quán chiếu thì cần cái tư duy đơn giản hơn để bám víu vào mà đi tới.
Ví dụ khi chúng ta niệm Bụt thì đức Thế Tôn là thầy của chúng ta. Là bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu; là bậc đã hiểu thấu thế gian; là bậc nhân sĩ cao tột có khả năng điều phục con người; là bậc thầy của cả hai giới thiên và nhân; là bậc tỉnh thức toàn vẹn; là bậc đáng tôn sùng và quý trọng nhất trên đời. Đó là những quan niệm về Bụt. Đó là những đức tính của Bụt, là những danh hiệu mà người ta nói về Ngài. Nhưng nếu ta quan niệm về Bụt như vậy thì Bụt trở thành một cái ngã, một thực tại nằm ngoài ta và ta phải cầu nguyện vì ta không có những cái đó. Như thế thì chúng ta chưa đi sâu lắm. Đó chưa phải là tư duy đi đôi với tuệ giác vô thường, vô ngã và tương tức.
Trong khi chúng ta chắp tay lại quán tưởng thì chúng ta nói rằng: “Bụt ơi! Con biết rằng Ngài và con là hai thực tại, nhưng không phải riêng biệt. Con thấy rõ ràng là Ngài có trong con và con cũng có trong Ngài. Tại vì Ngài và con đều có tính cách tương tức, cho nên sự cảm thông giữa con với Ngài trở thành sâu sắc." Đó là một phép quán tưởng trước khi lạy để mình có thể tiếp xúc được với tự thân của Bụt chứ không phải với cái ý niệm về Bụt. “Năng lễ sở lễ tính không tịch” tức là chủ thể lạy (mình) và đối tượng lạy (Bụt) bản chất đều là không. Không tức là không có một cái ngã riêng biệt mà cái này có trong cái kia, cái kia có trong cái này. Bụt có trong ta và ta có trong Bụt. Lễ Bụt như vậy sẽ đánh tan được cái ý niệm Bụt là một thực tại riêng biệt nằm ngoài mình và mình phải đi cầu xin, tìm kiếm.
Các bạn theo truyền thống Cơ Đốc giáo cũng có thể cầu nguyện với Chúa Giêsu như vậy. Nếu các bạn thấy Chúa như là một thực tại hoàn toàn khác biệt nằm bên ngoài mình thì các bạn không tiếp xúc được với thực tại hiện tiền. Hôm trước có một vị linh mục Công giáo đặt câu hỏi như sau: "Tại sao trong đạo Bụt không thiết lập một biểu tượng ở ngoài mình để cầu nguyện? Cầu nguyện như vậy mới có ý nghĩa chứ."
Vị linh mục ấy đã hỏi tôi như vậy. Ý ông ta là cầu nguyện thì phải có đối tượng. Cầu nguyện phải là cầu nguyện với ai. Tôi đã trả lời rằng: Mình có thể nói chuyện với em bé 5 tuổi ở trong mình hay không? Em bé 5 tuổi cũng là mình, em bé 5 tuổi bị thương rất nặng, nhưng vì mình bận rộn quá nên không có thời gian đoái hoài tới. Bây giờ mình đã biết quay trở về để nhận diện em bé 5 tuổi trong mình. Khi mình muốn nói chuyện với em bé thì liền nói chuyện được ngay chứ sao không. Em bé đó với mình là một hay hai? Mình có thể so sánh bức ảnh của mình khi lên năm và một bức ảnh mới nhất của mình trong hiện tại và hỏi: Em bé năm tuổi là tôi ấy với tôi đã trưởng thành là một hay là hai? Theo tuệ giác của đạo Bụt thì hai con người ấy không phải một cũng không phải hai. Em bé nhỏ xíu đó không giống mình bây giờ. Em bé đó với mình không phải là một (vì không giống nhau), nhưng mà cũng không phải là hai (vì mình là sự tiếp nối của em bé). Mình có thể nói chuyện với em bé rằng: “Em bé ơi tôi biết là em bé đang còn đó, em bé đã từng bị thương tích, đã từng bị khổ đau, em bé cần tới tôi, em bé cần sự nuôi dưỡng và trị liệu. Nhưng mà tôi bận rộn quá, tôi ít có thì giờ trở về với em bé, nói chuyện với em bé."
Đó là nói chuyện, đó là một sự cầu nguyện. Em bé đó không cần phải là một thực tại ngoài ta. Cho nên sự cầu nguyện là như vậy.
Khi cầu nguyện Bụt hay Chúa cũng vậy. Ta không hẳn phải có một đấng hoàn toàn ở ngoài ta thì mới cầu nguyện được. Vì vậy cho nên trong đạo Bụt mỗi khi mình chắp tay lạy Bụt thì phải cẩn thận. Đừng có coi Bụt là một vị thần linh có ở ngoài mình. Câu quán tưởng “năng lễ sở lễ tánh không tịch” rất là hay. Người lạy và người được lạy đều có tính cách tương tức, người này có trong người kia, vì vậy cho nên sự cảm thông mới có thể có được và có một cách sâu sắc. Lạy Bụt như vậy không phải là một cái sự cầu xin, không phải là một quỵ lụy. Lạy Bụt như vậy là để tiếp xúc với Bụt, mà Bụt này không phải là một thực tại nằm ở ngoài mình, Bụt này cũng chính là mình.
Mỗi khi ta chế tác được một chánh tư duy, một tư tưởng mà biểu lộ được tuệ giác vô thường, vô ngã, từ bi, trí tuệ và tương tức thì ta là Bụt. Khi ta chế tác một tư tưởng hận thù, kỳ thị, hay ganh tỵ thì ta không phải là Bụt. Khi ta nói ra được lời nói có yêu thương, có tha thứ, gây được niềm tin cho người thì ta là Bụt. Khi ta nói một câu dữ dằn, ác độc, chua cay thì ta không phải là Bụt. Tại vì Bụt cũng ở trong ta mà ma cũng ở trong ta. Và sự thực tập là làm thế nào để ta có nhiều cơ hội chế tác ra chánh tư duy. Những tư duy có từ bi, có hiểu biết, có thương yêu mà không có kỳ thị, ganh tỵ; làm sao để mỗi giây phút ta nói ra được lời thương yêu; làm sao để mỗi giây phút có được một hành động chăm sóc, bảo vệ thì mình là Bụt rồi, đi kiếm Bụt đâu nữa! Cho nên tổ Lâm Tế mới nói: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”. Khi ta chế tác ra được một chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp tức là mình đã là Bụt rồi, tại sao phải đi tìm đâu xa xôi. Vì vậy cho nên Bụt tại tâm là rất đúng.
Ta thấy rõ ràng là ta tìm thấy Bụt ngay trong tự tâm của mình, mà ta cũng tìm thấy Bụt ở trong tăng thân của mình. Tăng thân của mình là gì? Tăng thân là một đoàn thể đang thực tập để có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Tăng thân của ta có thể không hoàn hảo, nó còn có lên xuống, còn khổ đau, còn hờn giận… Nhưng tất cả mọi người trong tăng thân đều có ý chí muốn tu học. Cho nên người nào tu giỏi thì có thể mỗi ngày chế tác ra được nhiều chánh tư duy, nhiều chánh ngữ và nhiều chánh nghiệp. Thì người ấy đang đại diện cho Bụt, đang tiếp nối Bụt, đang cống hiến chất Bụt cho tất cả những người khác trong tăng thân. Đó là Bụt. Những người xuất sĩ nam hay xuất sĩ nữ, những người tại gia nam hay tại gia nữ, người nào mà thực tập chánh niệm hay chánh định; người nào mà nhìn sâu để có một cái thấy biểu lộ được tính vô thường, vô ngã, tương tức, không kỳ thị và chế tác được những tư duy có chất từ, chất bi, chất hỷ, chất xả thì người đó là một sự tiếp nối của Bụt. Bụt không ở đâu xa, Bụt rất rõ ràng và cụ thể và mình có thể tiếp xúc với Bụt bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Mỗi khi có những khó khăn, những buồn khổ kéo tới thì mình nói: “Bụt ơi! Con biết Ngài có đó, con muốn tiếp xúc với Ngài để cho con khỏe nhẹ”.
Với phương pháp theo dõi hơi thở và bước chân, ta ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Bụt cũng vậy, khi nào có những nỗi khổ niềm đau thì Ngài biết trở về với hơi thở. Và hơi thở đó giúp cho Bụt ôm ấp và lìa bỏ được những nỗi khổ niềm đau của mình.
Quý vị cũng vậy, mỗi khi quý vị có một sự bất an trong lòng, có một chướng ngại làm cho mình không có hạnh phúc thì cách hay nhất là trở về hơi thở. Hơi thở giúp mình chạm được vào nỗi khổ niềm đau, chạm được vào cái cảm giác bất an, mông lung của mình để ôm ấp và chuyển hóa. Không những mình tiếp xúc được bằng hơi thở mà mình còn có thể tiếp xúc được bằng bước chân. Rất là hay.
Bụt cũng có thể có những khó khăn, khó khăn của Bụt cũng có thể đến từ bên trong hoặc từ bên ngoài. Nhưng mỗi khi có khó khăn tới thì Bụt biết tiếp xúc với những khó khăn ấy và mỉm cười với chúng rồi tìm cách chuyển hóa chúng. Nếu khi những khổ đau tìm tới với ta mà ta biết sử dụng hơi thở và bước chân để chạm vào và xoa dịu những khổ đau ấy thì ta cũng đang là một vị Bụt. Còn nếu khổ đau tới với ta mà ta không biết thực tập thì ta không phải là Bụt. Bụt có mặt 24 giờ đồng hồ trong một ngày.
Thế nên trong ngày lễ Phật Đản, chúng ta có cơ hội quán chiếu để thấy rằng có thể tiếp xúc với Bụt một cách rất cụ thể. Tôi nghĩ rằng nếu thấy được Bụt như vậy rồi thì Bụt không còn là một cái gì mơ hồ nữa, không còn là một đấng thần linh ở trên mây nữa. Chúng ta là đệ tử của thiền sư Lâm Tế thì chúng ta phải nhớ lời này: “Phật và Bồ Tát hả? Phật và Bồ Tát là ai? Là các vị đây chứ ai, các vị đang ngồi đây nghe pháp chứ ai”.
Mỗi chúng ta đều có khả năng ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của mình và giúp cho người khác ôm ấp niềm đau, chuyển hóa niềm đau của họ. Chúng ta đang làm công việc của Bụt, chúng ta đang là sự tiếp nối của Bụt.
Mỗi chúng ta đều có khả năng chế tác ra những tư duy lành, những ngôn ngữ lành và những hành động lành, đó là chúng ta đang nối tiếp sự nghiệp của Bụt – sự nghiệp thương yêu, sự nghiệp hiểu biết, sự nghiệp từ bi. Ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều đó.
Thông thường, Bụt ở đâu thì quốc độ của Ngài ở đó. Ngài đi tới đâu cũng mang theo quốc độ của mình. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng là Bụt, chúng ta là sự tiếp nối của Ngài nên chúng ta cũng phải có cõi Bụt quanh mình. Ví dụ ta ngồi nhìn ra cửa sổ thấy mùa xuân vẫn còn đang phơi phới, cỏ cây xanh mướt, hoa đua nhau khoe sắc thắm, ta thấy những thứ đó rất mầu nhiệm. Tiếp xúc được với những mầu nhiệm đó thì ta thấy cuộc đời này đẹp đẽ quá. Ta có thể ngồi trên một góc cỏ nhìn ngắm mọi thứ trong tâm trạng không có đau buồn. Ta ngắm một cái lá sen, ngắm một cái lá tre trong bình an thì lúc đó ta là Bụt.
Nếu bị giam hãm trong những cơn buồn giận, ta không tiếp xúc được với những mầu nhiệm của thiên nhiên thì ta không phải là Bụt, ta đang không có cõi Bụt bao quanh. Bụt ở đâu thì cõi Bụt ở đó. Khi ta có an lạc, hạnh phúc thì quang cảnh xung quanh cũng có an lạc, hạnh phúc. Khi một sư anh, sư chị hay sư em không dễ thương mà mình ôm được cái không dễ thương đó, mình nhìn sư anh, sư chị, sư em của mình với con mắt từ bi thì mình là Bụt và sư anh, sư chị, sư em ấy là cõi Bụt của mình. Nhìn bằng con mắt từ bi thì mình khỏe và cõi của mình trở thành cõi tịnh độ. Nhìn bằng con mắt đau buồn trách móc thì mình không phải là Bụt và cõi xung quanh của mình không phải là cõi Bụt. Đó là sự thực tập của chúng ta. Một tăng thân được thiết lập ra là để tiếp nối Bụt.
Một người thực tập cũng là sự tiếp nối của Bụt. Nhưng nếu được sống trong tăng thân, được cùng tăng thân thực tập thì chúng ta sẽ được che chở, được yểm trợ nhiều hơn. Vì vậy tu tập mà có tăng thân thì dễ dàng hơn rất nhiều. Nương vào anh, vào chị, vào em, và vào những người bạn đồng tu để mỗi giây phút mình có thể chế tác được chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp. Khi chế tác ra được ba cái đó thì trong người mình có Bụt và xung quanh mình là cõi Bụt. Còn khi chế tác ra những chất liệu ngược lại thì trong người mình không có Bụt và xung quanh mình cũng không có cõi Bụt.
Chúng ta có thể đã từng nghĩ rằng các chương trình sinh hoạt tại Làng Mai khá dày đặc: Buổi sáng phải thức dậy sớm đi ngồi thiền, phải ăn sáng, làm việc, đi thiền hành, ăn trưa, rồi đi theo các lớp học, rồi ăn chiều, rồi lại ngồi thiền tụng kinh vào buổi tối. Vừa kết thúc khóa tu hai mươi mốt ngày đã sang khóa tu mùa hè, rồi đi Ý, đi Đức, đi Đông Nam Á… Giống như không có thì giờ để chơi. Chúng ta có cảm tưởng như là chúng ta bị một sức ép phải đi theo. Chúng ta cảm thấy chúng ta không có đủ không gian. Khi chúng ta cảm thấy mình bị ép theo thời khóa, chúng ta cảm thấy mình thiếu không gian, thì trong chúng ta lúc ấy không có Bụt, không có tăng thân và hoàn cảnh xung quanh ta cũng không phải là cõi Bụt.
Ở đời có những người rất thích hát. Họ không có phải là người tu nhưng buổi sáng thức dậy họ muốn hát một bài. Trong khi xả nước tắm, họ vừa tắm vừa hát. Nhưng có những người khác khi thức dậy không hát được, lúc tắm họ cũng không hát được, tại vì họ bị kéo đi bởi hàng trăm thứ lo toan, dự tính trong lòng. Thường thì đó đều là những lo toan không đáng có như tại sao mình cứ phải dậy sớm đi làm? Không biết hôm nay ở công ty ra sao? Chết rồi, tí nữa phải nhớ đi đổ xăng v.v… Cùng thức dậy vào buổi sáng nhưng hai người này khác nhau: một người thì có niềm vui trong lòng do biết an trú, một người thì không có niềm vui do bị những lo toan kéo đi. Khi ta có niềm vui trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Bụt. Khi có phiền não trong lòng thì thế giới xung quanh trở thành cõi Ta Bà.
Trong tu viện, mỗi sáng ta đều thức dậy đi ngồi thiền. Ngồi thiền làm cái gì? Ngồi thiền tức là khỏi làm gì hết, lúc ấy không có ai sai mình phải làm cái này hay làm cái kia. Chỉ ngồi yên thôi thì sướng biết bao nhiêu. Thử hỏi trên thế gian này có biết bao nhiêu người thức dậy được ngồi yên trong vòng nửa giờ hay một giờ? Được ngồi thiền rất yên vào buổi sáng giống như có tiếng hát trong lòng và ngồi thiền không phải là một cái áp lệnh nữa, mà là một niềm vui. Khi ngồi thiền mình có thể tiếp xúc được với Thầy, với sư anh, sư chị hoặc sư em đang ngồi chung với mình và mình được nuôi dưỡng. Cũng như có người khi thức dậy mở cửa sổ ra là có thể hát được. Ta cũng vậy. Khi thức dậy ta thấy được ngồi thiền, được đi thiền hành là một niềm vui. Ngồi thiền và đi thiền hành đó không phải là công việc, không phải là một áp lực, không phải là lao tác cực nhọc mà mình phải trả nợ như là một người công dân.
Ở bên ngoài đa phần mọi người đều rất bận rộn không có cả thời gian để ngồi yên, trong khi đó tại tu viện, mỗi ngày chúng ta đều được ngồi yên không phải làm gì cả, đó là những cơ hội rất quý. Thế nhưng có lúc ta lại cảm thấy đó là một sự lao tác mệt nhọc, cảm thấy bị ép buộc. Khi ngồi thiền hay đi thiền hành mà ta biết cách an trú trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở thì ta có an lạc, thảnh thơi. Lúc ấy ngồi thiền như là ngồi chơi, đi thiền hành như là đi chơi và xung quanh ta là cõi Bụt. Còn khi ngồi thiền hay đi thiền hành với tâm trạng bị ép uổng thì rất tội nghiệp và rất uổng.
Trong cùng một khung cảnh nhưng có người thì thảnh thơi, thư thái, có người lại cảm thấy gò bó, cảm thấy không có không gian, không có thời gian để sống cho mình. Có những người thấy rất hạnh phúc được ngồi thiền, được đi thiền hành, được nấu cơm cho đại chúng, được tổ chức và hướng dẫn khóa tu v.v... Trong khi đó lại có những người cảm thấy phải ngồi thiền, phải đi thiền hành, phải tổ chức khóa tu. Đối với những người ấy thì ngồi thiền, thiền hành không phải để sống cho mình, quét nhà, làm vườn không phải để sống cho mình. Cho nên tất cả là tùy theo cách mình nhìn. Cũng giống như ở ngoài, có nhưng người họ rất thích đi làm vì họ yêu nghề. Lại có những người rất ngao ngán khi thức dậy thấy có một ngày làm việc trước mặt.
Thiền Sư Lâm Tế có nói với chúng ta rằng: “Quý vị đừng có tưởng tượng quá, đừng có nghĩ rằng cung trời Đâu Suất và đức Di Lặc ở trên mây. Quý vị đừng đi tìm báo thân, pháp thân, ứng thân và cũng đừng đi tìm Tịnh Độ, mất thời gian lắm. Quý vị chính là Bụt là Bồ Tát đó, nếu quý vị nhận ra được đời sống là những cái nhiệm mầu”.
Có sáu đạo thần quang tức là sáu thức khiến cho mình có thể tiếp xúc được với tất cả những cái mầu nhiệm đó. Cung trời Đâu Suất của đức Bụt Di Lặc, hay cõi Tịnh Độ hay tam giới có mặt hiện tiền để mình có thể tiếp xúc liền ngay được. Tam giới là tam giới của mình chứ đâu nữa? Người ta lặp đi lặp lại một cách máy móc câu: “Tôi tu học để mau thoát khỏi tam giới”. Tổ Lâm Tế nói: “Đừng nói rằng quý vị đi tu là để thoát khỏi tam giới (cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc). Thoát khỏi tam giới thì quý vị đi đâu. Ở ngay trong tam giới này đã có đủ Bụt, Pháp, Tăng, có Tịnh Độ, cõi Bụt, có đủ hết”. Khi tâm mình có ham muốn thì tức là mình đang ở trong cõi dục. Khi tâm có từ bi, hiểu biết thì mình đang ở trong cõi bồ tát, cõi Bụt.
Chúng ta đã có cơ hội được nghe những lời giảng, những lời khai thị rất nhiệm mầu của chư Tổ. Và chúng ta có cơ hội để được sống thật sâu sắc những giây phút của đời sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta có thể tiếp nối sự nghiệp của chư Bụt. Chư Bụt rất gần chúng ta để được tiếp nối một cách đẹp đẽ.
http://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/u-nghia-phat-dan
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
Nem nướng chay - Vegan broiled balls ( for recipe in English, please write: Info@VietNamAnChay.com ) Cuối tuần đãi món cuốn chay lạ miệng, ...
-
Nấm Hào Xào Rau Tam Cẩm (Ảnh: Bình Thường) Vegan MoFo Ngày 16: Nấm Hào Xào Rau Tam Cẩm - Tri-color Veggies Stir-fried with Oyster Mushroom ...
-
Bên Mỹ sắp tới ngày Lễ Độc Lập, 4 tháng 7, món sà-lát khoai tây là món truyền thống, không thể thiếu trong thực đơn. Món Sà-lát Khoai Tây ...
-
http://blip.tv/file/get/Phapamtinhdo-YeuChiTuHanh536.wmv http://blip.tv/file/get/Phapamtinhdo-YeuChiTuHanhMP3965.mp3
-
Mình thích ăn chay Chế lời từ Đừng nói xa nhau Của nhạc sĩ Châu Kỳ - Hồ Đình Phương Mình thích ăn chay cho tâm hồ...
-
Living Beauty On the evening of February 26, 2011, Mr. Nguyễn Vũ Trường Giang, a mason, unhesitatingly plunged into the Sài Gòn River to sav...
-
Vua Trần Nhân Tông đã đại thắng quân Nguyên tạo nên một trang sử Việt Nam oai hùng. Nhà vua sau đó đã truyền trao ngôi vua lại cho con là T...
-
Bé Như Ý Thuyết giảng đề tài TU HÀNH(1/6) Bé Như Ý Thuyết giảng đề tài TU HÀNH(2/6) Bé Như Ý Thuyết giảng đề tài TU HÀNH(3/6) Bé Như Ý Thuyế...
-
Châm ngôn; 1. "Trong thiên hạ, không có chuyện làm biếng mà có thể có một thân thể khỏe mạnh." 2. "Đi với những việc không vu...
-
RẤT HAY, KÍNH MỜI XEM VÀ PHỔ BIẾN Click chu ột v ào đây xem LẠY PHẬT QUÁN THẾ ÂM (Người gởi: Snowy Nguyen ) Xem hay d ở nh ớ gởi lời ...






